Trợ giúpTrang chủIndexNhómThành viênĐăng kýĐăng Nhập
DIỄN ĐÀN SỬ HỌC TRẺ - Điểm hẹn của những người đam mê Sử học từ khắp mọi miền Tổ quốc.
News & Announcements
  • Muzik
Similar topics
  • » 27/1/2012 Gặp Kyuhyun, chàng nhân viên làm việc bán thời gian đẹp trai
  • » CSCF FPS Việt-CSCFSE
  • » U23 Indonesia - U23 Việt Nam: Khó cưỡng
  • » Mẫu viết sáng kiến kinh nghiệm
  • » Viết chương trình nhập vào một số và in ra tổng tất cả các số từ 1 tới số đó
  • » Chú ý : Nội Qui Về Việc Post Bài Viết Toàn Forum !(8/2/2013)
  • » Phim mới của Chung Tử Đơn cực hay_Legend Of The Fist: The Return Of Chen Zhen 2010-Huyền Thoại Trần Chân
  • » Phim Đòn bẩy của dân Bình Định
  • » Đoạn phim Star War trên đĩa Blu-Ray
  • » Hãy xem phim “Áo Cưới” để biết trân trọng hơn những gì bạn đang có với gia đình mình
  • Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)551
    Share | 

     

     Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)

    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
    Sun Jun 22, 2008 9:56 pm


    CỐ VẤN CHUYÊN MÔN

    Khai Tam hungson

    CỐ VẤN CHUYÊN MÔN

    Xem lý lịch thành viên
    Họ & tên Họ & tên: Nguyễn Hùng Sơn
    Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ: Uỷ viên danh dự Ban Điều hành Câu lạc bộ
    Huy chương Cống hiến Huy chương Cống hiến:
    Huy chương thành tích Huy chương thành tích:

    Ngày tham gia Ngày tham gia: 17/06/2008
    Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi: 138
    Đến từ Đến từ: Bình Dương
    Điểm thành tích Điểm thành tích: 330
    Được cám ơn Được cám ơn: 20

    Bài gửiTiêu đề: Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)

     
    Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)


    Triều Hậu Lê kéo dài 361 năm (1428 - 1789), được chia làm 2 thời kì : Lê sơ được tình từ khi Lê Lợi lên ngôi( 1428) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi ( 1527), gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê đến giai đoạn thịnh trị nhất.

    1. Tình hình chinh trị

    * Bộ máy chính quyền

    Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế. Đến thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), nó đạt tới đỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền. Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quý tộc thời Lý - Trần mang đậm tính Phật giáo màu sắc Đông Nam Á sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông Á.

    Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối thời Lê sơ, vai trò của nhà vua đã được đẩy lên rất cao với chủ nghĩa "tôn quân". Theo đó, nhà vua là "con Trời". Người giữ mệnh Trời, thay Trời trị dân ; các ấn tín của vua đều khắc chữ "Thuận thiên thừa vận", "Đại thiên hành hóa". Điện Kính Thiên được xây trong Hoàng thành Thăng Long. Hoàng đế là người chủ tế duy nhất trong các buổi tế lễ (tế Trời, tế Tôn miếu, tế Khổng Tử), là Tổng chỉ huy quân đội (Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh Champa). Thời Lê Thánh Tông, chức Tướng quốc (Tể tướng) đầu triều và một số chức danh đại thần khác đã bị bãi bỏ. Hoàng đế trực tiếp điều khiển triều đình. Quyền lực của các quý tộc tôn thất cũng bị hạn chế, không được lập quân vương hầu, phủ đệ, Lê Thánh Tông bỏ lệ ban Quốc tính. Thời Lê sơ, một số công thần có uy tín và quyền lực cao đã bị nghi kỵ và lần lượt bị giết hại, như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Nguyễn Trãi.

    Bộ máy quan liêu hành chính và chuyên môn cũng được kiện toàn từng bước. Năm 1471 , Lê Thánh Tông đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn (dụ Hiệu định quan chế) nhằm tăng cường sự kiểm soát chỉ đạo của Hoàng đế đối với các triều thần, tăng cường sự ràng buộc, kiểm soát lẫn nhau trong giới quan liêu, tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quan lại.

    Trong triều đình, dưới quyền điều khiển trực tiếp của nhà vua là 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công, đứng đầu là Thượng thư, giúp việc có 2 Thí lang. Bên cạnh đó, còn có Lục khoa với chức năng theo dõi, giám sát và Lục tự với chức năng điều hành. Những cơ quan chuyên môn trong triều gồm có các đài, các viện, giám, sảnh như Ngự sử đài, Hàn lâm viện. Quốc tử giám, Nội thị sảnh ...

    Về mặt hành chính, trước đó, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo. Lê Thánh Tông đã cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi là 13 thừa tuyên), đó là: Lạng Sơn, An Bang, Thái Nguyên, H¬ng Hoá, Tuyên Quang, Bắc Giang, Nam Sách, Quốc Oai, Thiên Trường, Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hóa vù Quảng Nam. Kinh thành Thăng Long thuộc một đơn vị hành chính đặc biệt, gọi là phủ Trung Đô, sau đổi thành phủ Phụng Thiên, bao gồm 2 huyện Vĩnh Xương (sau đổi thành Thọ Xương) và Quảng Đức, từ năm 1430 gọi là Đông Kinh (để phân biệt với Tây Kinh, tức Lam Kinh, Lam Sơn - Thanh Hoá). Dưới đạo thừa tuyên có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, cùng các đơn vị cơ sở như hương, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường. Riêng kinh thành Thăng Long được chia thành 36 phường.

    Đứng đầu các đạo thừa tuyên là các tuyên phủ sứ. Ở mỗi thừa tuyên có 3 ty : Đô ty (phụ trách quân đội) Thừa ty (phụ trách dân sự hành chính) và Hiến ty (phụ trách thành tra giám sát). Các xã được chia thành 3 loại : xã lớn (500 hộ) , xã vừa (trên 300 hộ) và xã nhỏ (trên hộ). Chức xã quan do dân bầu, Nhà nước chỉ đạo và xét duyệt, tiêu chuẩn là các giám sinh, sinh đồ, từ 30 tuổi trở lên và có hạnh kiểm.

    Tổng số quan lại ( từ cấp huyện trở lên) thời Lê Thánh Tông là 5370 người, gồm 2755 quan trong triều và 2615 quan ở các địa phương, đại bộ phận xuất thân từ khoa cử.

    * Quân đội

    Quân đội thời Lê sơ là một quân đội mạnh, được huấn luyện kỹ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lê Lợi có 35 vạn quân, sau khi cho giải ngũ, còn 10 vạn.

    Quân đội được chia thành cấm binh và ngoại binh. Lê Thái Tổ chia quân thành 5 phiên, Lê Thánh Tông đổi thành 5 phủ (quân khu). Cũng như thời Lý - Trần, nhà Lê đã áp dụng chính sách "ngụ binh ư nông", cho quân lính thay phiên về làm ruộng.

    Theo chế độ tuyển quân, cứ 3 đinh lấy một lính thường trực (tráng hạng) và một lính trù bị (quân hạng). Có các loại quân thủy, bộ, tượng, kỵ. Vũ khí ngoài giáo mác, cung tên, có hỏa pháo và hỏa đồng. Chế độ tập luyện quy củ. Hàng năm, quân sĩ từ Thanh Hóa trở ra tập duyệt ở Kinh đô, từ Thanh Hóa trở vào tập duyệt tại địa phương. Ở phía tây thành Thăng Long, có khu Giảng Võ điện, Giảng Võ đường chuyên huấn luyện tướng sĩ.

    * Luật pháp

    Trong việc trị nước, bên cạnh lễ giáo, các vua thời Lê sơ rất chú trọng đến việc chế định pháp luật. Lê Thánh Tông nói: "Pháp luật là phép công của nhà nước, vua cùng quan đều phải theo". Đến thời Hồng Đức, Lê Thánh Tông đã cho ban hành bộ luật thành văn hoàn chỉnh, gồm 722 điều, được gọi là Quốc triều hình luật hay Bộ luật Hồng Đức, sẽ được duy trì và bổ sung ở các thế kỷ sau. Về hình thức, đó là bộ luật hình sự (với khung ngũ hình : suy, trưởng, đồ, lưu, tử), nhưng thực chất là bộ luật tổng hợp, có các điều khoản về điền sản, dân sự, hôn nhân gia đình ...

    Nội dung cơ bản của Bộ luật là bảo vệ vương quyền, chế độ quan liêu. trật tự đẳng cấp, gia đình phụ hệ gia trưởng và ý thức hệ Nho giáo. Luật quy định 10 trọng tội không thể nhân nhượng được (thập ác) và 8 hạng người có thể miễn giảm tội (bát nghị).

    Bộ luật mang tính đẳng cấp, có mô phỏng luật Trung Quốc, nhưng nhiều điều khoản đã lưu ý đến những tập quán cổ truyền mang tính đặc hữu dân tộc.

    Quyền lợi của phụ nữ đã được chú trọng trong việc thừa kế gia tài và xét xử ly hôn, được coi là tiến bộ hơn so với luật Trung Quốc đương thời.

    * Củng cố chính quyền dân tộc

    Với lòng tự hào dân tộc, các vua thời Lê sơ đã không ngừng củng cố, phát triển quốc gia dân tộc thống nhất. Lê Thánh Tông nói: "Quyết không để một tấc đất, một thước sông của Thái Tổ lọt vào tay kẻ khác". Các vua Lê đã thi hành một chính sách hòa hoãn nhưng kiên quyết với nhà Minh trong vấn đề biên giới, phát triển lãnh thổ về phía tây và phía nam. Năm 1471, Lê Thánh Tông cất quân đánh Cham pa, chiếm thành Đồ Bàn (Bình Định), lấy vùng đất mới lập thành thừa tuyên Quảng Nam. Các nước trong khu vực (như Xiêm La, Miến Điện) đều đến triều cống.

    Để nắm chắc và khống chế các tù trưởng thiểu số, triều đình nhà Lê đã áp dụng những biện pháp kết hợp trấn áp với phủ dụ (như trường hợp đối với Đèo Cát Hãn, tù trưởng Thái ở Lai Châu). Nhà vua cũng cho điều tra và lập sổ hộ tịch, khảo sát địa hình, lập bản đồ hành chính quốc gia (bản đồ Hồng Đức năm 1469), đề cao, tôn vinh truyền thống dân tộc và các danh nhân lịch sử - văn hoá. Ở thế kỷ XV, Đại Việt đã trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á.

    2. Tình hình kinh - xã hội

    Nhà nước quân chủ tập trung thời Lê sơ là một nhà nước mạnh và ổn định. Trong sự phục hồi và phát triển kinh tế, Nhà nước đó đã đề cao vai trò chỉ đạo và sự can thiệp của mình vào đời sống kinh tế - xã hội, duy trì sự cân bằng giữa những yếu tố nhà nước và dân gian, công hữu và tư hữu. Thời Lê sơ, nền kinh tế tiểu nông - sản xuất nhỏ làng xã đã được duy trì và khuyến khích, với sự can thiệp và bảo hộ của một Nhà nước thu tô, trọng nông. Nhà nước đó cũng có thái độ dè dặt, không khuyến khích nền kinh tế công thương nghiệp hàng hóa phát triển, nắm độc quyền gian thương với nước ngoài.

    * Nông nghiệp

    Ruộng đất thời Lê sơ bao gồm ruộng đất Nhà nước, ruộng công làng xã và ruộng tư.
    Ruộng Nhà nước thường được gọi là quan điền. Có ruộng quốc khố là những ruộng do Nhà nước trực tiếp quản lý và sản xuất, thu hoạch đưa vào kho công. Lộc điền là loại ruộng của Nhà nước ban cấp cho những quan liêu cao cấp (từ tứ phẩm trở lên), gồm có ruộng ban cấp được phép thừa kế (ruộng thê' nghiệp) và ruộng ban cấp tạm thời, có thể thu hồi lại sau khi chết (ruộng ân tứ). Diện tích lộc điền có thể thay đổi từ 40 mẫu (quan tứ phẩm) đến trên 2000 mẫu (các thân vương). Người được cấp chỉ được hưởng hoa lợi, tô thuế, có một số hộ người hầu nhưng không có nông nô và nô tì.
    Chữ ký của Khai Tam hungson





    Số lần được cảm ơn : Message reputation : 100% (1 vote)


    Sun Jun 22, 2008 10:01 pm


    CỐ VẤN CHUYÊN MÔN

    Khai Tam hungson

    CỐ VẤN CHUYÊN MÔN

    Xem lý lịch thành viên
    Họ & tên Họ & tên: Nguyễn Hùng Sơn
    Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ: Uỷ viên danh dự Ban Điều hành Câu lạc bộ
    Huy chương Cống hiến Huy chương Cống hiến:
    Huy chương thành tích Huy chương thành tích:

    Ngày tham gia Ngày tham gia: 17/06/2008
    Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi: 138
    Đến từ Đến từ: Bình Dương
    Điểm thành tích Điểm thành tích: 330
    Được cám ơn Được cám ơn: 20

    Bài gửiTiêu đề: Trang 2

     
    Lộc điền thời Lê thay thế thái ấp điền trang thời Lý - Trần, nó không tạo điều kiện cho yếu tố cát cứ phát triển. Một số ruộng thế nghiệp của lộc điền có xu hướng trở thành những ruộng tư, người được cấp trở thành quan liêu - địa chủ.

    Đồn điền là loại ruộng do Nhà nước trực tiếp quản lý đứng đầu là các quan chánh, phó đồn điền sứ. Các quân sĩ, tù binh, phạm nhân tội đồ, dân lưu tán được chiêu mộ. Ruộng đất đồn điền phần lớn có nguồn gốc khai hoang hoặc ở các miền biên ải. Năm 1481, Lê Thánh Tông cho lập 43 sở đồn điền. Vùng Bắc Bộ có 30 sở, chung quanh Hà Nội có các sở đồn điền ở Dịch Vọng, Quán La, Thịnh Quang...

    Ruộng làng xã gồm có các loại công điền và tư điền. Thời Lê sơ, tuy ruộng tư đã phát triển, nhưng ruộng công vẫn chiếm uu thế, qua việc thực hiện phép quân điền.

    Chính sách "quân điền" bắt đầu từ thời Lê Thái Tổ. Sau khi kháng chiến thắng lợi, tình hình ruộng đất xáo trộn, nhà vua đã có ý định chia ruộng công cho nhân dân, qua lời phủ dụ : "chiên sĩ thì nghèo, du sĩ thì giàu, người chiến sĩ phải chiến đấu thì không có tấc đất để ở, kẻ du thực vô ích cho nước thì lại có ruộng đất quá nhiều... Do đó, không có nhười tận tâm với nước mà chỉ lo việc phú quý. Phép quân điền được thực hiện hoàn chỉnh dưới thời Lê Thánh Tông.

    Theo đó, ruộng đất công làng xã cứ 6 nam một lần được phân phối lại, dưới sự chỉ đạo của Nhà nước. Quỹ đất theo đơn vị làng xã, có thể điều chỉnh chút ít giữa các xã lân cận. Đối tượng được chia ruộng kể từ các quan tam phẩm (nếu chưa có hoặc có ít lộc điền) được chia 11 phần tới các loại cô nhi, quả phụ được 3 phần. Người cày ruộng phải nộp tô cho Nhà nước (các quan tam, tứ phẩm thì được miễn). Loại công điền quân phân này trên danh nghĩa thuộc quyền sở hữu Nhà nước, do làng xã quản lý và các hộ gia đình sử dụng.

    Chính sách quân điền" thời Lê sơ là một b¬ớc trong quá trình phong kiến hóa làng xã, chuyển từ nền kinh tế điền trang quý tộc sang nền kinh tế tiểu nông. Qua đó, Nhà nước đã nắm được làng xã và dân chúng tăng nguồn thu nhập (qua nghĩa vụ tô thuế, lao dịch, binh dịch). mặt khác, phát triển được sản xuất và ổn định được đời sống nhân dân. Đó là một biện pháp tích cực trong chính sách ruộng đất thời Lê sơ, nhưng sau đã dần dần mất tác đụng do nạn chấp chiếm ruộng đất.

    Bên cạnh ruộng công, ruộng tư thời Lê sơ cũng đã phát triển, một số là của địa chủ quan liêu và đại bộ phận là của địa chủ bình dân. Ruộng tư không phải nộp tô cho Nhà nước. Nhà nước thừa nhận nhưng không khuyến khích loại ruộng này. Bộ luật nhà Lê, nhất là chương Điền sản đã nói đến các thủ tục làm văn tự khế ước trong vấn đề bán nhượng, tranh chấp kiện tụng hoặc thừa kế về ruộng đất.

    Sự phát triển của ruộng tư thời Lê sơ phản ánh xu thế phát triển khách quan về ruộng đất trong lịch sử Việt Nam, xác lập quan hệ sản xuất phong kiến phổ biến địa chủ - tá điền trong xã hội. Tuy nhiên, đây là một quá trình tư hữu hóa không tự nhiên, không được Nhà nước khuyến khích, nên đã dẫn đến những tệ nạn như chiếm công vi tư, chấp chiếm ruộng đất... dần dần đi tới tình trạng khủng hoảng ruộng đất.

    Nhà nước Lê sơ là một Nhà nước trọng nông, đã đề ra nhiều biện pháp để khuyến khích và phát triển nông nghiệp.Việc chăm sóc, đào đắp kênh đê rất được chú trọng. đặt ra các chức quan Khuyến nông và Hà đê. Khi khẩn cấp đã huy động cả học sinh Quốc Tử Giám trong việc hộ đê. Ở Nam Định, có nhiều đoạn đê ngăn nước mặn còn mang lên là đê Hồng Đức", cũng như ở Thanh Hoá, nhiều sông đào, được gọi là sông nhà Lê". Để bảo đảm sản xuất, các vua Lê đã cho thi hành chính sách "ngụ binh ư nông", cho quân đội thay phiên về làm ruộng, theo tinh thần tĩnh vi nông. động vi binh". Luật pháp nghiêm cấm việc giết trâu, bò sống để bảo vệ sức kéo. Khi huy động công việc lao dịch, các quan sở tại phải tránh thời vụ, để không làm kinh động sức dân.

    Quan điểm trọng nông là một chính sách truyền thống của các vương triều phong kiến Việt Nam. Nó cũng xuất phát từ nguyên lý trọng bản, ức mạt của Nho giáo. Vì vậy, thời Lê sơ, quan điểm trọng nông bắt đầu đi kèm với quan điểm ức thương.

    * Thủ công nghiệp

    Nhà nước Lê sơ một mặt dung dưỡng nền sản xuất nhỏ thủ công nghiệp trong các làng xã, mặt khác đẩy manh hoạt động của các quan xưởng thuộc thủ công nghiệp Nhà nước. Ở nông thôn, đã xuất hiện nhiều làng chuyên nghề như Bát Tràng (gốm sứ), Huê Cầu (nhuộm thâm). Ớ kinh thành Thăng Long, Dư địa chí ghi lại một số phường chuyên nghề nổi tiếng như Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm và Thuỵ Chương dệt vải lụa, Hà Tân nung vôi, Hàng Đào nhuộm điều, Tả Nhất làm quạt, Đường Nhân bán áo diệp y.

    Các quan xưởng hay Cục bách tác là những xưởng thủ công do Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành sản xuất, phục vụ cho nhu cầu của quan liêu, quân sĩ và dân chúng như các xưởng đúc tiền, chế tạo vũ khí, đóng thuyền, sản xuất các đồ dùng nghi lễ, phẩm phục.

    Trong các quan xưởng, Nhà nước áp dụng chính sách "công tượng". Các thợ khéo bị trưng lập theo nghĩa vụ lao dịch, được phiên chế thành đội ngũ như binh lính, phải cưỡng bức lao động dưới sự đôn đốc của các giám đương và chủ ty. Đó là một nền sản xuất bao cấp, không tiếp cận với thị trường trao đổi buôn bán.

    * Thương nghiệp
    Hoạt động thương nghiệp chủ yếu ở thời Lê sơ là nền buôn bán nhỏ thông qua mạng lưới chợ ở nông thôn và thành thị. Nhà Lê đã ban hành lệ lập chợ, khẳng định “trong dân gian hễ có dân là có chợ, để lưu thông hàng hoá”, quy định nguyên tắc họp chợ luân phiên. Ở Thăng Long - Đông Kinh, các thương nhân từ các nơi về, đua nhau mở hàng quán phố xá buôn bán. Lúc đầu, chính quyền địa phương định đuổi họ về nguyên quán, sau theo đề nghị của Quách Đình Bảo đã đồng ý cho họ ở lại sinh nhai, để cho hàng hóa lưu thông và nhà nước cũng có được khoản thu từ thuế (1481).

    Thời Lê sơ, Nhà nước bỏ lệ tiêu tiền giấy của nhà Hồ, cho lưu thông tiền đồng. Lê Lợi nói :"Tiền là huyết mạch của dân, không thể không có”. Nhà nước quy định 1 quan là 10 tiền, 1 tiền là 60 đồng, tức 1 quan = 600 đồng.

    Riêng việc buôn bán với nước ngoài, Nhà nước đã kiểm soát nghiêm ngặt các cáng khẩu, như Vân Đồn, Vạn Ninh, (Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (Nghệ An), cấm dân chúng tự tiện buôn bán trao đổi hàng hóa với các tàu buôn ngoại quốc, thi hành chính sách bế quan toả cảng".

    * Kết cấu xã hội

    Xã hội Đại Việt thời Lê sơ là một xã hội tương đối ổn định và phát triển, đồng thời là một xã hội mang tính đẳng cấp đã chín muồi. Có hai đẳng cấp chính: quan liêu và thứ dân (chia thành 4 tầng lớp: sĩ. nông, công, thương). Thời Lê sơ các quan hệ giai cấp (địa chủ phong kiến và nông dân) đã đan chen vào các quan hệ đẳng cấp.

    Quan liêu là đẳng cấp cầm quyền, cai trị, đồng thời cũng được coi là tầng lớp ưu tú của xã hội, yêu nuôi và giáo hóa dân chúng. Đội ngũ quan chức thời Lê sơ là những tri thức Nho sĩ được tuyển lựa kỹ lưỡng (chủ yếu qua khoa cử), được rèn luyện và kiểm soát chặt chẽ (bởi nhà vua, các quy chế, bộ Lại và chế độ khảo khóa). Đó cũng là đẳng cấp có nhiều đặc quyền, ưu đãi trong các tiêu chuẩn sinh hoạt (nhà cửa, quần áo, võng lọng), được ban cấp đất ở, ruộng lộc điền, lương bổng.

    Đầu thời Lê sơ, các công thần chủ yếu là quan võ (tham gia từ đầu cuộc khởi nghĩa), sau dần dần chuyển sang các quan văn (những người đỗ đại khoa). Với việc mở rộng khoa cử, các Nho sĩ trí thức bình dân đã có điều kiện tham gia chính quyền, tạo nên sự bình đẳng tiến thân, thoáng rộng hơn so với thời Lý - Trần. Tuy nhiên, quan lại lúc này cũng bị kiểm soát ràng buộc nghiêm ngặt bởi các lễ thức, quy phạm Nho giáo, do vậy, đã mang nhiều tính chuyên chế và quan liêu hơn.

    Đẳng cấp thứ dân (bách tính) là giai tầng xã hội bì cai trị, bao gồm 4 tầng lớp chính : sĩ, nông, công, thương. Nho sĩ thời Lê sơ là cầu nối giữa bình dân và quan liêu. Nông dân là tầng lớp xã hội đông đảo nhất, đã phân hóa thành nhiều bộ phận: địa chủ bình dân, nông dân tự canh, tá điền. Một số cường hào có thể đã xuất hiện trong làng xã. Địa chủ bình dân cùng với địa chủ quan liêu đã hợp thành giai cấp phong kiến. Thợ thủ công gồm một số công tượng và chủ yếu là thợ thủ công trong làng xã. Do quan điểm "ức thương", thương nhân là tầng lớp xã hội bị coi rẻ hơn cả, bị gán cho những tính cách "phi nghĩa", "bất nhân".

    3. Tình hình tư tưởng văn hóa

    Nhìn chung, thời Lê sơ, văn hóa Đại Việt đã chuyển sang sự ưu thắng của văn hóa Đông Á, Nho học- Nho giáo.

    Đây là thời kỳ diễn ra một sự phân dòng văn hóa. Dòng văn hóa dân gian làng xã không được nhà nước khuyến khích, đã tách khỏi dòng văn hóa cung đình. Sự phân dòng văn hóa này đã phản ánh sự phân tầng đẳng cấp ngoài xã hội.

    Tuy nhiên, trên thực tế, các yếu tố văn hóa khác biệt nhau vẫn cùng tồn tại, chung sống hòa bình, như giữa Nho và Phật, Đạo, giữa văn hóa chính thống và văn hóa dân gian. Mô hình ý thức hệ đã phải nhân nhượng với thực trạng văn hóa.

    * Tôn giáo, tư tưởng

    Các nhà vua thời Lê sơ đã từ bỏ chính sách khoan dung Tam giáo đồng nguyên của nhà nước thời Lý- Trần để chuyển sang một chính sách văn hóa đơn nguyên quan phương, độc tôn Nho giáo và Nho học. Ở đây, Tống Nho đã được đề cao như một hệ tư tưưởng chính thống nhà nước, làm bệ đỡ tư tưởng cho chế độ quân chủ quan liêu. Khẩu hiệu chiến lược "Sùng Nho trọng Đạo là việc hàng đầu” (Bia Văn Miếu - 1442) đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được mở rộng, giáo dục khoa cử Nho học được kiện toàn. Lê Thánh Tông còn cho ban bố trong nhân dân "24 điều giáo huấn" để củng cố những nguyên tắc cơ bản về đạo đức và lễ giáo Nho giáo. Chính ông đã nói: "Tất cả đều do cái mũ của nhà Nho mà ra". Ngô Sĩ Liên khẳng định "vua tôi, cha con, vợ chồng là 3 cương lớn trong đạo luân lý của người, ngoài ra không có gì lớn hơn".

    Nho giáo thời Lê sơ cũng dần dần chuyển hóa. Thời kỳ đầu, khái niệm "nhân" đã được nhấn mạnh. Nguyễn Trãi nói: "Người làm vua phải để lòng nơi nhân nghĩa, coi nhân nghĩa là chỗ đứng của mình". Giai đoạn sau, trọng tâm của Nho giáo là được chuyển qua khái niệm "lễ", mang tính giáo điều bảo thủ. Lê Thánh Tông nhấn mạnh: "Người khác cầm thú là vì có Lễ để làm khuôn phép giữ gìn".

    Đề cao Nho giáo, các vua Lê sơ đã hạn chế, kiểm soát những tôn giáo phi chính thống như Phật và Đạo, lấy cớ là "sợ lòng người lay động, phân tán". Lê Thái Tổ quy định sư tăng phải trên 50 tuổi, phải qua kỳ thi khảo hạnh, nếu trượt phải hoàn tục. Triều đình Lê sơ đã cấm quý tộc quan lại xây chùa mới, hạn chế việc đi lại của sư ¬ tăng, đạo sĩ (Điều 301 Luật Hồng Đức), cấm quan liêu trong triều kết giao với tăng, đạo. Trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông đã phê phán giới thiền tăng.

    Nói những thiên đường cùng địa ngụ
    Pháp sao chẳng độ được mình ta?

    Ngô Sĩ Liên mạnh mẽ đả kích : "Người nào đã học Nho giáo mà lại học thêm Phật giáo và Đạo giáo... thì có ích gì cho thế đạo, cho nước nhà. Lấy những người ấy đỗ mà làm gì?.

    Không được Nhà nước khuyến khích nhưng Phật, Đạo thời Lê sơ vẫn tồn tại trong xã hội, được mọi giới thừa nhận nhất là quần chúng nhân dân. Lê Sát cho xây chùa Thanh Đàm, Chiêu Độ rộng 90 gian. Chùa Báo Thiên ở kinh thành vẫn được mở rộng, rước tượng Phật từ chùa Pháp Vân về để cầu đảo Nho sĩ Lương Thế Vinh đã soạn sách Phật (Thiền môn khoa giáo), soạn bia chùa Diên Hựu. Bản thân nhà vua sùng Nho Lê Thánh Tông vẫn đi thăm viếng nhiều chùa chiền, cho dựng lầu "Vọng Tiên" và thừa nhận: "Giáo lý Phật Lão hết thảy đều mê đời lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không kể xiết mà lòng người vẫn rất ham rất tin. Đạo của Thánh hiền [Nho giáo]... đều thiên dụng trong cuộc sống thường ngày, mà lòng ham thích của người ta lại chẳng bằng Phật, Lão". Các đền thờ thần linh, các danh nhân lịch sử văn hóa và các hội lễ vẫn được xây dựng, tổ chức ở khắp nơi. Chính sách "độc tôn Nho học" của nhà nước Lê sơ, trên thực tế, đã không được thi hành một cách có hiệu quả.
    Chữ ký của Khai Tam hungson





    Sun Jun 22, 2008 10:05 pm


    CỐ VẤN CHUYÊN MÔN

    Khai Tam hungson

    CỐ VẤN CHUYÊN MÔN

    Xem lý lịch thành viên
    Họ & tên Họ & tên: Nguyễn Hùng Sơn
    Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ: Uỷ viên danh dự Ban Điều hành Câu lạc bộ
    Huy chương Cống hiến Huy chương Cống hiến:
    Huy chương thành tích Huy chương thành tích:

    Ngày tham gia Ngày tham gia: 17/06/2008
    Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi: 138
    Đến từ Đến từ: Bình Dương
    Điểm thành tích Điểm thành tích: 330
    Được cám ơn Được cám ơn: 20

    Bài gửiTiêu đề: Trang 3

     
    * Giáo dục, khoa cử

    Giáo dục, khoa cử thời Lê sơ phát triển, trước hết do đường lối "sùng Nho", của các nhà vua thời kỳ này, đồng thời cũng là để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về đào tạo nhân tài, quan liêu cho chế độ. Lê Thái Tông khẳng định: "Muốn có được nhân tài, trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, mà kén chọn kẻ sĩ, phải lấy thi cử làm đầu...".

    Các vua thời Lê sơ đều đã cho sửa sang tu bổ Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đợt trùng tu mở rộng lớn nhất là vào năm 1483, đời Lê Thánh Tông. Nhà vua đã cho dựng ở Văn Miếu các công trình Đại Thành môn, nhà Giải vũ Đông Tây, điện Canh Phục, kho Tế khí, nhà bia Tiến sĩ (năm 1484, cho dựng 10 bia, kể từ khoa 1442). Đối với Quốc Tử Giám, cho dựng nhà Minh Luân, giảng đường Đông Tây, kho Bí thư, nhà nghỉ cho giám sinh. Về tổ chức, Nhà nước đặt các chức Tế tửu và Tư nghiệp Quốc Tử Giám (như Tế tửu Lý Tử Tấn và Tư nghiệp Ngô Sĩ Liên). Hệ thống giảng dạy có giáo thụ, trực giảng, trợ giáo và bác sĩ.

    Quốc Tử Giám đời Lê sơ đã mở rộng đối tượng tuyển sinh và học tập, nhiều con em học giỏi xuất thân từ các gia đình bình dân cũng được tham gia học tập. Giám sinh (xá sinh) thời Lê được chia làm 3 loại (thượng, trung, hạ) được cấp học bổng và học phẩm.

    Ở các địa phương, hệ thống trường học có đến cấp phủ huyện, các lớp học có đến cấp xã.

    Khoa cử cũng rất phát triển dưới thời Lê sơ. Ngay từ năm 1426, khi cuộc kháng chiến chưa thành công, Lê Lợi đã cho tổ chức khoa thi ở trạm Bồ Đề, bên kia sông Hồng. Sau khi lên ngôi, ông cũng đã cho tổ chức các kỳ thi Minh kinh và Hoành từ. Năm 1438, định phép thi hương ở các đạo. Năm 1442 (Nhâm Tuất, Đại Bảo năm thứ 3 đời Lê Thái Tông), tổ chức thi Hội, lấy 33 tiến sĩ (trong đó 3 người đỗ đầu là Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc). Ngô Sĩ Liên cũng đỗ khoa này. Đến thời Lê Thánh Tông, khoa cử đạt tới đỉnh cao. Trong 39 năm, đã tổ chức 12 khoa thi Hội lấy 501 tiến sĩ (toàn thời Lê sơ, có 29 khoa thi quốc gia, lấy 988 tiến sĩ).

    Thời Lê sơ, quy chế thi cử cũng được kiện toàn. Có 2 cấp thi: thi địa phương (thi Hương) và thi quốc gia (thi Hội, thi Đình). Học vị thi Hương là Hương cống, học vị thi Hội và thi Đình là Tiên sĩ với 3 cấp: Tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Tiến sĩ xuất thân và đồng Tiến sĩ xuất thân. Các bài thi cũng được ấn định. Mỗi khoa thi gồm có 4 trường, lần lượt là: Kinh nghĩa, chiếu chế biểu, thơ phú, văn sách.

    Nhà nước Lê sơ đã thi hành chính sách trọng sĩ, trong các lễ xướng danh, ban mũ áo, thiết yến tiệc, vinh quy. Mọi tiến sĩ đều được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu.

    Nền giáo dục, khoa cử thời Lê sơ mang tính thế tục. phổ cập và bình đẳng, nó đã trí thức hóa tầng lớp quan liêu. Phan Huy Chú nhận xét: "Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp". Tuy nhiên dần đần, nền giáo dục đó đã trở nên chật hẹp, bị hệ tư tưởng hóa quá mức, quan liêu hóa tầng lớp trí thức, như bia Văn Miếu nhận xét: “cái thực chưa xứng với cái danh".

    * Văn học và sử học

    Có 2 khuynh hướng văn thơ nổi trội dưới thời Lê sơ : văn thơ yêu nước dân tộc và văn thơ cung đình.

    Theo đà dòng văn học yêu nước thời Lý - Trần, được tiếp sức thêm bởi cảm hứng qua những chiến công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều tác phẩm văn thơ đã nói lên ý chí bất khuất và lòng tự hào về một quốc gia - dân tộc có bề dày lịch sử - văn hóa. Nguyễn Trãi với Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Lý Tử Tấn với Chí Linh sơn phú, Xương Giang phú, Nguyễn Mộng Tuân với Lam Sơn phú, Hậu Bạch Đằng giang phú, Lê Thánh Tông với các bài thơ ca tụng các nhân vật lịch sử - văn hóa và các danh lam thắng cảnh đất nước. Theo phương hướng tìm về cội nguồn dân tộc Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã hiệu đính Lĩnh Nam thích quái, một tác phẩm dã sử truyền thuyết từ thời Trần. Tinh thần dân tộc còn biểu hiện ở việc phổ biến dùng chữ Nôm, với các tác giả Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và tác phẩm Hồng Đức Quốc âm thi tập.

    Bên cạnh đó, dòng văn học cung đình với nội dung hình thức thù phụng, thanh lệ cũng phát triển. Bùi Huy Bích nhận định: "Thời Hồng Đức gọi là cực thịnh nhưng lúc đó văn chương ưa chuộng thanh lệ (khuôn sáo hình thức)". Điển hình là hội Tao Đàn (nhị thập bát tú) do Lê Thánh Tông làm chủ soái, cùng các văn thần như Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh. Tác phẩm chính của hội này là tập Quỳnh uyển cửu ca, với những bài thơ xướng họa tán tụng, với chủ đề khuôn sáo là "Minh quân, lương thần" (vua sáng, tôi hiền). Dòng văn học cung đình đã thể hiện rõ quan điểm giáo huấn "Văn dĩ tải đạo", yếu tố trữ tình, cá nhân đã vắng mặt trong đó.

    Để phục vụ cho việc xây dựng chế độ phong kiến nhà nước quan liêu và thể hiện tinh thần dân tộc, "sánh ngang Nam - Bắc", các tác phẩm lịch sử, địa lý thời Lê sơ khá phong phú. Đó là các tác phẩm Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi, bộ điển chế đồ sộ Thiên Nam dư hạ tập 100 quyển (đã thất truyền, chỉ còn lại 4- 5 quyển).

    Đặc biệt, bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư của các sử thần nhà Lê (Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh), phát triển từ bộ sử gốc Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu trước đó, là một tác phẩm quý giá. Ở đây, lần đầu tiên, Ngô Sĩ Liên đã đưa truyền thuyết Hùng Vương - An Dương Vương vào chính sử dân tộc.

    Về địa lý, đáng kể là cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi và tập bản đồ hành chính quốc gia soạn dưới thời Lê Thánh Tông, th¬ường gọi là Hồng Đức bản đồ vẽ chi tiết 13 thừa tuyên và các phủ huyện. Các tác phẩm địa lý này cũng đã được bổ sung ở những thời kỳ sau.

    * Nghệ thuật

    Nhìn chung, khuynh hướng cung đình, quan phương trong nghệ thuật thời Lê sơ đã thắng thế, do ảnh hưởng của văn hóa Đông Á Nho giáo, mang tính giáo điều, công thức. Qua cuộc tranh luận giữa Lương Đăng và Nguyễn Trãi, Nhà nước đã chấp nhận nhã nhạc (mô phỏng nhạc Trung Quốc) như thứ nhạc chính thống được diễn tấu trong cung đình. Hình tượng con rồng thời Lê trong điêu khắc cũng dữ tợn, oai nghiêm hơn, không thanh thoát như hình tượng con rồng giun uốn lượn thời Lý- Trần.

    Thời kỳ này, văn hóa dân gian bị hạ thấp, thậm chí bị miệt thị. Năm 1448, điệu múa dân gian lý liên (rí ren) bị coi là dâm tục, nhảm nhí và bị cấm. Năm 1462, cấm các con nhà phường chèo không được đi thi, mà nạn nhân gần 2 thế kỷ sau đó là nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ.

    * Về kiến trúc, điêu khắc:

    Hoàng thành Thăng Long được tu sửa, mở rộng vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, với nhiều cung điện nguy nga. Điện Kính Thiên ở trung tâm Hoàng thành đã được xây dựng (ngày nay chỉ còn lại đôi lan can rồng đá). Ở quê hương Lê Lợi, Lam Kinh cũng đã được xây dựng quy mô đồ sộ với hệ thống lăng mộ và tấm bia Vĩnh Lăng nổi tiếng.

    * Về nghệ thuật biểu diễn, điệu múa rất phổ biến là Bình Ngô phá trận, ca ngợi các chiến tích của nghĩa quân Lam Sơn. Lương Thế Vinh soạn Hý phường phả Iục nói về nghệ thuật ca múa.

    * Về khoa học kỹ thuật, Phan Phu Tiên có cuốn Bản thảo thực vật toản yếu, Lương Thế Vinh soạn Đại thành toán pháp ; Vũ Hữu (cha Vũ Quỳnh) soạn Lập thành toán pháp, tính toán rất chính xác trong việc thiết kế xây dựng, tu sửa hai cửa Hoàng thành Thăng Long : Đại Hưng (Cửa Nam) và Đông Hoa (Cửa Đông).

    Hình thành từ những thế kỷ trước, muộn nhất là vào thời nhà Lý, chế độ phong kiến Đại Việt- thuộc loại hình phong kiến nhà nước quan liêu đã được xác lập vững chắc vào thế kỷ XV, dưới triều Lê sơ.

    Thời Lý, Trần trên danh nghĩa, Nhà nước Đại Việt đã chấp nhận một mô hình phong kiến thời Đường- Tống, và ở một mức độ hạn chế, hệ tư tưởng phong kiến Khổng giáo. Tuy nhiên, ngay cả ở mặt thiết chế hệ tư tưởng này, ảnh hưởng Phật giáo vẫn còn rất đậm, các yếu tố phong kiến còn khá mờ nhạt. Mặt khác, thực thể kinh tế - xã hội còn mang nhiều yếu tố cổ tuyền trước phong kiến. Nhà nước chưa nắm chắc một cách trực tiếp người nông dân tự canh, tầng lớp địa chủ phong kiến tư hữu chưa phát triển, sự phân hóa đẳng cấp trong xã hội và nhất là trong làng xã chưa thực sự gay gắt. Một xã hội phong kiến đích thực chưa tồn tại, hoặc nói khác đi, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Đại Việt còn ở giai đoạn tiền mô hình, duy trì một khoảng cách khá lớn giữa danh và thực.

    Triều Lê sơ thành lập, có thể được coi như một bước ngoặt lịch sử, trong những điều kiện thuận lợi cho những yếu tố phong kiến phát triển. Thiết chế - ý thức hệ phong kiến mà nhà Minh áp đặt trong hai thập kỷ thuộc Minh đã để lại những hệ quả sâu sắc. Các nhà vua thời Lê sơ do tinh thần tự hào dân tộc, quan điểm "vô tốn Hoa Hạ", “sánh ngang Nam - Bắc" cùng đã tự nguyện chấp nhận một mô hình phong kiến Nho giáo Đông Á, như một bệ đỡ tư tưởng cho thiết chế quân chủ tập quyền. Ở đây, một nhà nước chuyên chế toàn năng, can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, đã được xác lập. Đẳng cấp quan liêu được tuyển lựa qua khoa cử, đã trở thành lực lượng thống trị, ngày càng xa cách khối quần chúng bình dân làng xã. Trên danh nghĩa, Nho giáo được coi như một hệ tư tưởng phong kiến chính thống độc tôn. Thiết chế - hệ tư tưởng phong kiến đến giai đoạn này, đã được hoàn chỉnh.

    Những chuyển biến về kinh tế - xã hội thời Lê sơ cũng ngày càng ngả sang màu sắc phong kiến. Những quan hệ sản xuất phong kiến trong kinh tế nông nghiệp được thể hiện ở hai mặt. Người nông dân tự canh trong làng xã ngày càng bị lệ thuộc và ràng buộc vào một Nhà nước phong kiến thu tô, qua phép quân điền, những nghĩa vụ tô thuế, lao dịch và binh dịch, làng xã ngày càng bị phong kiến hoá. Mặt khác, do sự phát triển của yếu tố tư ¬ hữu ruộng đất và tầng lớp địa chủ bình dân, quan hệ sản xuất phong kiến địa chủ - tá điền dần dần phổ biến trong xã hội. Sự phân hóa đẳng cấp trở nên sâu sắc, trên quy mô xã hội ở tầng vĩ mô, cũng như trong quy mô làng xã ở tầng vi mô.

    Nói tóm lại, thời Lê sơ, cả ở mặt mô hình thiết chế, hệ tư tưởng lẫn mặt thực thể kinh tế - xã hội, những yếu tố phong kiến đã chiếm ưu thế. Chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Đại Việt đã được xác lập vững chắc, khoảng cách giữa danh và thực (giữa mô hình và thực thể) ở mức độ nhỏ nhất. Thế kỷ XV được coi là một thế kỷ cổ điển của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây là một loại hình chế độ phong kiến nhà nước quan liêu, có nhiều điểm khác biệt nếu đối sánh với một chế độ phong kiến lãnh chúa ở Tây âu trung đại, hay với chế độ phong kiến võ sĩ hoặc chế độ phong kiến tăng lữ ở một số nước khác.

    Tuy nhiên, trong thực tế, xã hội Đại Việt thời Lê sơ vẫn không phải và chưa bao giờ hoàn toàn là một xã hội phong kiến Đông Á Nho giáo thuần nhất. Nó là một sự hỗn dung, lai ghép mang tính đối trọng giữa một mô hình ngoại nhập và một mô hình thực thể bản địa. Triều Lê sơ, vì thế, đã có một vị thế quan trọng và được đánh giá cao trong lịch sử dân tộc, quan sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

    Về mặt tiến trình xã hội, so với thời Lý - Trần, sự xác lập chế độ phong kiến nhà nước quan liêu thời Lê sơ là một buớc tiến. Tuy nhiên, ở một số mặt nào đó, nhất là về quan hệ xã hội và cân bằng văn hóa, nó đồng thời cũng bị chững lại, thậm chí có chỗ thụt lùi. Trong thế kỷ XV, những mâu thuẫn xã hội chứa chất, nhưng trong điều kiện một thể chế Nhà nước mạnh và ổn định, nên vẫn ở dạng tiềm năng. Những mâu thuẫn đó sẽ bộc phát nhanh chóng trong 3 thập kỷ đầu thế kỷ XVI, dẫn triều Lê sơ đến chỗ sụp đổ.

    Nguồn: Nguyễn Quang Ngọc 2006, Chương IV - Việt Nam thế kỷ XV, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục, Tr.116 – 130.
    Chữ ký của Khai Tam hungson





    Sat Feb 26, 2011 4:11 pm


    Thành viên mới gia nhập

    Dr.NHTT

    Thành viên mới gia nhập

    Xem lý lịch thành viên
    Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ: Thành viên
    Ngày tham gia Ngày tham gia: 26/02/2011
    Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi: 2
    Điểm thành tích Điểm thành tích: 2
    Được cám ơn Được cám ơn: 0

    Bài gửiTiêu đề: Nhờ Anh/chị kiểm tra thông tin sau chính xác không?

     
    Khai Tam hungson đã viết:
    * Giáo dục, khoa cử

    Giáo dục, khoa cử thời Lê sơ phát triển, trước hết do đường lối "sùng Nho", của các nhà vua thời kỳ này, đồng thời cũng là để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về đào tạo nhân tài, quan liêu cho chế độ. Lê Thái Tông khẳng định: "Muốn có được nhân tài, trước hết phải chọn lựa kẻ sĩ, mà kén chọn kẻ sĩ, phải lấy thi cử làm đầu...".

    Các vua thời Lê sơ đều đã cho sửa sang tu bổ Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đợt trùng tu mở rộng lớn nhất là vào năm 1483, đời Lê Thánh Tông. Nhà vua đã cho dựng ở Văn Miếu các công trình Đại Thành môn, nhà Giải vũ Đông Tây, điện Canh Phục, kho Tế khí, nhà bia Tiến sĩ (năm 1484, cho dựng 10 bia, kể từ khoa 1442). Đối với Quốc Tử Giám, cho dựng nhà Minh Luân, giảng đường Đông Tây, kho Bí thư, nhà nghỉ cho giám sinh. Về tổ chức, Nhà nước đặt các chức Tế tửu và Tư nghiệp Quốc Tử Giám (như Tế tửu Lý Tử Tấn và Tư nghiệp Ngô Sĩ Liên). Hệ thống giảng dạy có giáo thụ, trực giảng, trợ giáo và bác sĩ.

    Quốc Tử Giám đời Lê sơ đã mở rộng đối tượng tuyển sinh và học tập, nhiều con em học giỏi xuất thân từ các gia đình bình dân cũng được tham gia học tập. Giám sinh (xá sinh) thời Lê được chia làm 3 loại (thượng, trung, hạ) được cấp học bổng và học phẩm.

    Ở các địa phương, hệ thống trường học có đến cấp phủ huyện, các lớp học có đến cấp xã.

    Khoa cử cũng rất phát triển dưới thời Lê sơ. Ngay từ năm 1426, khi cuộc kháng chiến chưa thành công, Lê Lợi đã cho tổ chức khoa thi ở trạm Bồ Đề, bên kia sông Hồng. Sau khi lên ngôi, ông cũng đã cho tổ chức các kỳ thi Minh kinh và Hoành từ. Năm 1438, định phép thi hương ở các đạo. Năm 1442 (Nhâm Tuất, Đại Bảo năm thứ 3 đời Lê Thái Tông), tổ chức thi Hội, lấy 33 tiến sĩ (trong đó 3 người đỗ đầu là Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc). Ngô Sĩ Liên cũng đỗ khoa này. Đến thời Lê Thánh Tông, khoa cử đạt tới đỉnh cao. Trong 39 năm, đã tổ chức 12 khoa thi Hội lấy 501 tiến sĩ (toàn thời Lê sơ, có 29 khoa thi quốc gia, lấy 988 tiến sĩ).

    Thời Lê sơ, quy chế thi cử cũng được kiện toàn. Có 2 cấp thi: thi địa phương (thi Hương) và thi quốc gia (thi Hội, thi Đình). Học vị thi Hương là Hương cống, học vị thi Hội và thi Đình là Tiên sĩ với 3 cấp: Tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Tiến sĩ xuất thân và đồng Tiến sĩ xuất thân. Các bài thi cũng được ấn định. Mỗi khoa thi gồm có 4 trường, lần lượt là: Kinh nghĩa, chiếu chế biểu, thơ phú, văn sách.

    Nhà nước Lê sơ đã thi hành chính sách trọng sĩ, trong các lễ xướng danh, ban mũ áo, thiết yến tiệc, vinh quy. Mọi tiến sĩ đều được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu.

    Nền giáo dục, khoa cử thời Lê sơ mang tính thế tục. phổ cập và bình đẳng, nó đã trí thức hóa tầng lớp quan liêu. Phan Huy Chú nhận xét: "Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp". Tuy nhiên dần đần, nền giáo dục đó đã trở nên chật hẹp, bị hệ tư tưởng hóa quá mức, quan liêu hóa tầng lớp trí thức, như bia Văn Miếu nhận xét: “cái thực chưa xứng với cái danh".

    * Văn học và sử học

    Có 2 khuynh hướng văn thơ nổi trội dưới thời Lê sơ : văn thơ yêu nước dân tộc và văn thơ cung đình.

    Theo đà dòng văn học yêu nước thời Lý - Trần, được tiếp sức thêm bởi cảm hứng qua những chiến công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều tác phẩm văn thơ đã nói lên ý chí bất khuất và lòng tự hào về một quốc gia - dân tộc có bề dày lịch sử - văn hóa. Nguyễn Trãi với Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Lý Tử Tấn với Chí Linh sơn phú, Xương Giang phú, Nguyễn Mộng Tuân với Lam Sơn phú, Hậu Bạch Đằng giang phú, Lê Thánh Tông với các bài thơ ca tụng các nhân vật lịch sử - văn hóa và các danh lam thắng cảnh đất nước. Theo phương hướng tìm về cội nguồn dân tộc Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã hiệu đính Lĩnh Nam thích quái, một tác phẩm dã sử truyền thuyết từ thời Trần. Tinh thần dân tộc còn biểu hiện ở việc phổ biến dùng chữ Nôm, với các tác giả Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và tác phẩm Hồng Đức Quốc âm thi tập.

    Bên cạnh đó, dòng văn học cung đình với nội dung hình thức thù phụng, thanh lệ cũng phát triển. Bùi Huy Bích nhận định: "Thời Hồng Đức gọi là cực thịnh nhưng lúc đó văn chương ưa chuộng thanh lệ (khuôn sáo hình thức)". Điển hình là hội Tao Đàn (nhị thập bát tú) do Lê Thánh Tông làm chủ soái, cùng các văn thần như Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh. Tác phẩm chính của hội này là tập Quỳnh uyển cửu ca, với những bài thơ xướng họa tán tụng, với chủ đề khuôn sáo là "Minh quân, lương thần" (vua sáng, tôi hiền). Dòng văn học cung đình đã thể hiện rõ quan điểm giáo huấn "Văn dĩ tải đạo", yếu tố trữ tình, cá nhân đã vắng mặt trong đó.

    Để phục vụ cho việc xây dựng chế độ phong kiến nhà nước quan liêu và thể hiện tinh thần dân tộc, "sánh ngang Nam - Bắc", các tác phẩm lịch sử, địa lý thời Lê sơ khá phong phú. Đó là các tác phẩm Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi, bộ điển chế đồ sộ Thiên Nam dư hạ tập 100 quyển (đã thất truyền, chỉ còn lại 4- 5 quyển).

    Đặc biệt, bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư của các sử thần nhà Lê (Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh), phát triển từ bộ sử gốc Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu trước đó, là một tác phẩm quý giá. Ở đây, lần đầu tiên, Ngô Sĩ Liên đã đưa truyền thuyết Hùng Vương - An Dương Vương vào chính sử dân tộc.

    Về địa lý, đáng kể là cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi và tập bản đồ hành chính quốc gia soạn dưới thời Lê Thánh Tông, th¬ường gọi là Hồng Đức bản đồ vẽ chi tiết 13 thừa tuyên và các phủ huyện. Các tác phẩm địa lý này cũng đã được bổ sung ở những thời kỳ sau.

    * Nghệ thuật

    Nhìn chung, khuynh hướng cung đình, quan phương trong nghệ thuật thời Lê sơ đã thắng thế, do ảnh hưởng của văn hóa Đông Á Nho giáo, mang tính giáo điều, công thức. Qua cuộc tranh luận giữa Lương Đăng và Nguyễn Trãi, Nhà nước đã chấp nhận nhã nhạc (mô phỏng nhạc Trung Quốc) như thứ nhạc chính thống được diễn tấu trong cung đình. Hình tượng con rồng thời Lê trong điêu khắc cũng dữ tợn, oai nghiêm hơn, không thanh thoát như hình tượng con rồng giun uốn lượn thời Lý- Trần.

    Thời kỳ này, văn hóa dân gian bị hạ thấp, thậm chí bị miệt thị. Năm 1448, điệu múa dân gian lý liên (rí ren) bị coi là dâm tục, nhảm nhí và bị cấm. Năm 1462, cấm các con nhà phường chèo không được đi thi, mà nạn nhân gần 2 thế kỷ sau đó là nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ.

    * Về kiến trúc, điêu khắc:

    Hoàng thành Thăng Long được tu sửa, mở rộng vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, với nhiều cung điện nguy nga. Điện Kính Thiên ở trung tâm Hoàng thành đã được xây dựng (ngày nay chỉ còn lại đôi lan can rồng đá). Ở quê hương Lê Lợi, Lam Kinh cũng đã được xây dựng quy mô đồ sộ với hệ thống lăng mộ và tấm bia Vĩnh Lăng nổi tiếng.

    * Về nghệ thuật biểu diễn, điệu múa rất phổ biến là Bình Ngô phá trận, ca ngợi các chiến tích của nghĩa quân Lam Sơn. Lương Thế Vinh soạn Hý phường phả Iục nói về nghệ thuật ca múa.

    * Về khoa học kỹ thuật, Phan Phu Tiên có cuốn Bản thảo thực vật toản yếu, Lương Thế Vinh soạn Đại thành toán pháp ; Vũ Hữu (cha Vũ Quỳnh) soạn Lập thành toán pháp, tính toán rất chính xác trong việc thiết kế xây dựng, tu sửa hai cửa Hoàng thành Thăng Long : Đại Hưng (Cửa Nam) và Đông Hoa (Cửa Đông).

    Hình thành từ những thế kỷ trước, muộn nhất là vào thời nhà Lý, chế độ phong kiến Đại Việt- thuộc loại hình phong kiến nhà nước quan liêu đã được xác lập vững chắc vào thế kỷ XV, dưới triều Lê sơ.

    Thời Lý, Trần trên danh nghĩa, Nhà nước Đại Việt đã chấp nhận một mô hình phong kiến thời Đường- Tống, và ở một mức độ hạn chế, hệ tư tưởng phong kiến Khổng giáo. Tuy nhiên, ngay cả ở mặt thiết chế hệ tư tưởng này, ảnh hưởng Phật giáo vẫn còn rất đậm, các yếu tố phong kiến còn khá mờ nhạt. Mặt khác, thực thể kinh tế - xã hội còn mang nhiều yếu tố cổ tuyền trước phong kiến. Nhà nước chưa nắm chắc một cách trực tiếp người nông dân tự canh, tầng lớp địa chủ phong kiến tư hữu chưa phát triển, sự phân hóa đẳng cấp trong xã hội và nhất là trong làng xã chưa thực sự gay gắt. Một xã hội phong kiến đích thực chưa tồn tại, hoặc nói khác đi, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Đại Việt còn ở giai đoạn tiền mô hình, duy trì một khoảng cách khá lớn giữa danh và thực.

    Triều Lê sơ thành lập, có thể được coi như một bước ngoặt lịch sử, trong những điều kiện thuận lợi cho những yếu tố phong kiến phát triển. Thiết chế - ý thức hệ phong kiến mà nhà Minh áp đặt trong hai thập kỷ thuộc Minh đã để lại những hệ quả sâu sắc. Các nhà vua thời Lê sơ do tinh thần tự hào dân tộc, quan điểm "vô tốn Hoa Hạ", “sánh ngang Nam - Bắc" cùng đã tự nguyện chấp nhận một mô hình phong kiến Nho giáo Đông Á, như một bệ đỡ tư tưởng cho thiết chế quân chủ tập quyền. Ở đây, một nhà nước chuyên chế toàn năng, can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội, đã được xác lập. Đẳng cấp quan liêu được tuyển lựa qua khoa cử, đã trở thành lực lượng thống trị, ngày càng xa cách khối quần chúng bình dân làng xã. Trên danh nghĩa, Nho giáo được coi như một hệ tư tưởng phong kiến chính thống độc tôn. Thiết chế - hệ tư tưởng phong kiến đến giai đoạn này, đã được hoàn chỉnh.

    Những chuyển biến về kinh tế - xã hội thời Lê sơ cũng ngày càng ngả sang màu sắc phong kiến. Những quan hệ sản xuất phong kiến trong kinh tế nông nghiệp được thể hiện ở hai mặt. Người nông dân tự canh trong làng xã ngày càng bị lệ thuộc và ràng buộc vào một Nhà nước phong kiến thu tô, qua phép quân điền, những nghĩa vụ tô thuế, lao dịch và binh dịch, làng xã ngày càng bị phong kiến hoá. Mặt khác, do sự phát triển của yếu tố tư ¬ hữu ruộng đất và tầng lớp địa chủ bình dân, quan hệ sản xuất phong kiến địa chủ - tá điền dần dần phổ biến trong xã hội. Sự phân hóa đẳng cấp trở nên sâu sắc, trên quy mô xã hội ở tầng vĩ mô, cũng như trong quy mô làng xã ở tầng vi mô.

    Nói tóm lại, thời Lê sơ, cả ở mặt mô hình thiết chế, hệ tư tưởng lẫn mặt thực thể kinh tế - xã hội, những yếu tố phong kiến đã chiếm ưu thế. Chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Đại Việt đã được xác lập vững chắc, khoảng cách giữa danh và thực (giữa mô hình và thực thể) ở mức độ nhỏ nhất. Thế kỷ XV được coi là một thế kỷ cổ điển của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây là một loại hình chế độ phong kiến nhà nước quan liêu, có nhiều điểm khác biệt nếu đối sánh với một chế độ phong kiến lãnh chúa ở Tây âu trung đại, hay với chế độ phong kiến võ sĩ hoặc chế độ phong kiến tăng lữ ở một số nước khác.

    Tuy nhiên, trong thực tế, xã hội Đại Việt thời Lê sơ vẫn không phải và chưa bao giờ hoàn toàn là một xã hội phong kiến Đông Á Nho giáo thuần nhất. Nó là một sự hỗn dung, lai ghép mang tính đối trọng giữa một mô hình ngoại nhập và một mô hình thực thể bản địa. Triều Lê sơ, vì thế, đã có một vị thế quan trọng và được đánh giá cao trong lịch sử dân tộc, quan sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

    Về mặt tiến trình xã hội, so với thời Lý - Trần, sự xác lập chế độ phong kiến nhà nước quan liêu thời Lê sơ là một buớc tiến. Tuy nhiên, ở một số mặt nào đó, nhất là về quan hệ xã hội và cân bằng văn hóa, nó đồng thời cũng bị chững lại, thậm chí có chỗ thụt lùi. Trong thế kỷ XV, những mâu thuẫn xã hội chứa chất, nhưng trong điều kiện một thể chế Nhà nước mạnh và ổn định, nên vẫn ở dạng tiềm năng. Những mâu thuẫn đó sẽ bộc phát nhanh chóng trong 3 thập kỷ đầu thế kỷ XVI, dẫn triều Lê sơ đến chỗ sụp đổ.

    Nguồn: Nguyễn Quang Ngọc 2006, Chương IV - Việt Nam thế kỷ XV, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Giáo Dục, Tr.116 – 130.



    - Tôi đang viết Gia phả cho dòng họ Nguyễn Thiện. Thông tin sau liên quan đến ông tổ của họ tôi - đó là cụ Nguyễn Thiện Chương.
    - Đây là thông tin cần kiểm chứng:

    "

    Giáo dục - khoa cử nho học Nghệ An thời Lê Sơ (1428-1527)

    http://www.ngheantoday.com/detail_message.asp?lang=1&fold=&SubCatID=736&msgID=1631&tr=692&dr=692

    Nghệ An là một vùng văn hóa muộn. Thời Lý - Trần nơi đây còn là vùng đất trại. Trong khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), Nghệ An là đất đứng chân hết sức quan trọng của nghĩa quân. Khởi nghĩa thành công, Nghệ An gắn bó chặt chẽ với triều Lê, với kinh thành Thăng Long, từ đó văn hóa, giáo dục Nghệ An được khởi sắc.

    Các bộ sách lịch sử và địa lý - lịch sử của Quốc Sử Quán triều Lê, triều Nguyễn và một số học giả xưa có chép ít nhiều về tình hình học tập, thi cử Nho học Nghệ An thời Lê sơ (1428-1527). Cuốn Lịch sử Nghệ Tĩnh (Tập 1- NXB Nghệ Tĩnh - 1984) và cuốn Nghệ An lịch sử và văn hóa (PGS Ninh Viết Giao chủ biên, NXB Nghệ An, 2005)… cũng có viết khái quát về văn hóa, giáo

    dục ở Nghệ An. Nghệ An thời Lê sơ, buổi đầu nằm trong đạo Hải Tây, từ năm 1469 vùng đất từ đèo Ngang phía Nam đến khe Nước Lạnh phía Bắc được gọi là thừa tuyên Nghệ An, từ năm 1490 đổi gọi là xứ Nghệ An, đến đời vua Hồng Thuận (1509-1516) lại đổi là trấn Nghệ An bao gồm cả tỉnh Hà Tĩnh hiện nay. Vì vậy, không kể bộ sách của PGS Ninh Viết Giao, các bộ sách trên viết về văn hóa Nghệ An đều gồm cả văn hóa xứ Nghệ. Bộ sách do Ninh Viết Giao chủ biên lại trình bày văn hóa Nghệ An theo từng chủ đề nên phần giáo dục, khoa cử Nho học Nghệ An thời Lê sơ nói riêng và thời phong kiến nói chung còn mỏng. Bài viết này bổ sung một phần khoảng trống trên: tìm hiểu giáo dục, khoa cử Nho học Nghệ An thời Lê sơ, góp phần bổ sung lịch sử văn hóa Nghệ An nói riêng và lịch sử Nghệ An nói chung.

    1. Giáo dục, thi cử Nho học

    1.1.Tình hình học tập

    Ngay sau khi quân Minh rút về nước, năm 1428, vua Lê Thái Tổ đã cho mở lại Quốc Tử Giám và nhà học ở các lộ. Học sinh ở Quốc Tử Giám gọi là giám sinh, ở nhà học các lộ gọi là lộ hiệu sinh. Con cháu các quan và những người tuấn tú trong nhân dân được vào học Quốc Tử Giám, con em nhà lương thiện trong nhân dân vào học nhà Hiệu của các lộ. Năm 1434, Lê Thái Tông lên nối ngôi đã cho con cháu ngành đích của bách quan được khai tên vào học ở Quốc Tử Giám; lại cho các lộ lập danh sách những người dự thi của lộ mình, tổ chức thi ở bản đạo, lấy đỗ hơn 1.000 người chia làm 3 hạng: hạng nhất và hạng nhì về học ở Quốc Tử Giám, hạng ba về học ở nhà học các lộ. Học trò ở nhà học các lộ, nếu đến 25 tuổi không đỗ vào các hạng trên thì phải về làm dân thường(1).

    Việc mở trường học ở đầu triều Lê khá rộng rãi. Các lộ và phủ trực thuộc trung ương đều có trường. Trước năm 1466, nhà học ở các lộ, phủ trực thuộc đặt chức giáo thụ làm giáo quan hoặc hiệu quan vừa trực tiếp giảng dạy ở trường của các lộ, phủ, vừa quản lí việc dạy ở các lộ, phủ. Từ năm 1466, đơn vị lộ không còn, các trường học được mở ở các phủ do các Huấn đạo phụ trách. Lê Thánh Tông cho lấy giám sinh đã thi trúng 1, 2, 3 kì của khoa thi Hội được tham dự 1 kì thi chọn giáo quan nếu đã đủ 35 tuổi. Trong đợt thi khảo này, thí sinh phải thi đủ cả 4 kì mới được ra làm Huấn đạo. Mỗi phủ triều đình giao cho hai viên Huấn đạo vừa dạy ở trường phủ, vừa quản lí việc học ở phủ.

    Thừa tuyên Nghệ An (đến năm 1490 đổi gọi là xứ, đến đời vua Lê Tương Dực (1509-1516) lại đổi gọi là trấn), buổi đầu vào triều Lê Thánh Tông có 9 phủ, 25 huyện, 2 châu. Vùng đất Nghệ An lúc bấy giờ gồm bốn phủ: Anh Đô (có 2 huyện: Nam Đường, Hưng Nguyên); Diễn Châu (có 2 huyện: Đông Thành, Quỳnh Lưu); Trà Lân (có 4 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Vĩnh Khang, Hội Ninh); Quỳ Châu (có 2 huyện: Trung Sơn, Thúy Vân). Ngoài ra còn 2 huyện: Thanh Giang (sau đổi là Thanh Chương), Chân Lộc (sau đổi là Nghi Lộc) thuộc phủ Đức Quang (phủ này có 6 huyện, 4 huyện còn lại: La Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Hương Sơn nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh) (2). Như vậy, vùng đất Nghệ An lúc bấy giờ có nhiều nhất là 8 viên Huấn đạo.

    Buổi đầu triều Lê, cư dân Nghệ An hãy còn thưa thớt. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Nghệ An thời Lê Thái Tông (1433-1442) gồm cả đất Hà Tĩnh hiện nay, có 8 phủ, 18 huyện, 2 châu, có 50.000 suất đinh (3). Trong lúc đó, Sơn Nam có 11 phủ, 42 huyện, 140.000 suất đinh; Kinh Bắc có 4 phủ, 19 huyện, 100.000 suất đinh; Sơn Tây có 6 phủ, 24 huyện, 100.000 suất đinh; Thanh Hoa (từ đời Thiệu Trị (1841-1847) mới đổi thành Thanh Hóa) có 4 phủ, 16 huyện, 4 châu, 70.000 suất đinh... Sau nhiều năm khói lửa chiến tranh, dân phiêu bạt khắp nơi, ruộng đồng không ai cày cấy. Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh Thị mô tả tình cảnh dưới chân rú Nguộc (Ngọc Sơn), nay thuộc xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, nơi tổ tiên họ Nguyễn Cảnh từ Đông Triều (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) chạy loạn đến: “…khổ nỗi sau cơn loạn lạc, lại xảy ra mất mùa, phương dân đói kém, hàng nghìn dặm ruộng nương không được cấy trồng…” (4). Vua Lê Thánh Tông đã hạ chiếu cho các công thần, đại thần, quan chức được phép đem gia đình vào Thanh Hoa, Nghệ An hoặc các nơi khác chiêu dân lập ấp, mở đồn điền, khẩn hoang cày cấy. Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ viết: “Khoảng năm Hồng Đức (1470-1497-HSH chú) triều Lê trở về sau, khi loạn lạc nhiều đất bỏ hoang, làm được bao nhiêu thì là của mình. Các nhà thế gia hào hữu tùy sức mình mà khai khẩn. Khi thành ruộng rồi thì khai số ruộng đưa lên bộ Hộ làm ruộng tư, như thế gọi là phép chiếm xạ” (5). Đây là thời kỳ Tướng công Tạ Công Luyện lập ra Tạ đồn điền vùng Bút Điền - Lạc Sở (nay thuộc xã Diễn Cát, Diễn Châu); Hồ Hữu Nhân khai khẩn vùng Đa Kỳ (nay là xã Quỳnh Bảng, Quỳnh Lưu); Nguyễn Xí và các con đưa chiến tù Chăm Pa chiêu tập dân phiêu tán đến lập đồn điền khai khẩn ở vùng hạ Nghi Lộc, vùng Vệ Sở, Mộc Hoàn Sở (nay thuộc huyện Hưng Nguyên) (6). Dân cư Nghệ An từ đó mới dần dần đông đúc, làng xã nhiều thêm, việc học hành được mở mang hơn trước.

    Đến năm 1471, biên giới phía Nam Đại Việt là đèo Cù Mông (phía Bắc Phú Yên), thừa tuyên Nghệ An không còn là đất biên viễn phía Nam. Trị sở thừa tuyên Nghệ An vẫn đặt ở Lam Thành (Hưng Nguyên). Nơi đây vẫn còn dấu tích của Thừa ty, Hiến ty ở xã Nghĩa Liệt; Trấn ty ở phường Vệ Sở; trường thi Hương và phố Phù Thạch sầm uất một thời. Đáng tiếc là tư liệu về tình hình trường lớp ở Nghệ An thời kỳ này hầu như không còn gì ngoài mấy ghi chép của sử cũ về các kỳ thi và tiểu sử tóm tắt các vị Tiến sĩ.

    1.2. Tình hình thi cử Nho học

    Ngay từ khi mới đem quân từ Thanh Hoa ra vây hãm Đông Đô, Lê Lợi đã cho tổ chức kỳ thi lấy đỗ 30 người bổ quan chức các lộ và viên ngoại lang các bộ. Các vua kế nghiệp sau này đều rất chú trọng thi cử Nho học để tuyển chọn quan lại. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Tháng Tám, năm Thiệu Bình thứ 1 (1434), nhà vua hạ chiếu rằng: Muốn có công hiệu về việc tìm người hiền, trước phải kén lấy kẻ sĩ; đường lối kén lấy kẻ sĩ, đầu tiên phải mở khoa thi… Điều lệ về khoa cử và trường thi đặt như thế này: Bắt đầu từ năm Thiệu Bình thứ 5 (1438), ở các đạo mở khoa thi Hương; đến năm thứ 6 (1439) mở khoa thi Hội ở đô sảnh đường. Từ đó về sau cứ 3 năm 1 lần, đặt làm thành lệ lâu dài. Ai trúng tuyển đều được cho là Tiến sĩ xuất thân…” (7).

    Đến năm Quang Thuận thứ 3 (1462), Lê Thánh Tông lại định phép thi Hương: “Học trò trong nước, không kể các hạng quân hoặc dân, người nào xin thi, đều cho phép viên quan bản quản và xã trưởng làm giấy cam đoan người ấy thực có đạo đức, hạnh kiểm mới cho ứng thí… Thời gian thi: Tháng Tám năm nay học trò vào thi, người nào được trúng tuyển được kê vào danh sách trình lên bộ Lễ, đến trung tuần tháng giêng năm sau những người ấy sẽ được vào thi Hội” (8).

    Sử cũ cũng cho biết khoa thi Hội đầu tiên dưới triều Lê sơ năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đã có 1.400 người dự thi và lấy đỗ 33 Tiến sĩ. Năm Quang Thuận thứ 4 (1463), số người dự thi nhiều hơn gấp 3 lần, lấy đỗ 44 Tiến sĩ. Năm Cảnh Thống thứ 2 (1499) và năm Cảnh Thống thứ 5 (1502), số người dự thi Hội lên đến 5.000 người. Từ năm Hồng Đức thứ 17 (1486) trở về trước, các quan viên không đỗ thi Hương cũng được dự thi Hội không qua một kì kiểm tra nào. Nhưng từ năm này trở về sau đã có quy định các quan viên không đỗ thi Hương phải qua một kì kiểm tra ở phủ Phụng Thiên hoặc các thừa tuyên theo như thể lệ thi Hương, có trúng cách mới được dự thi Hội.

    Số người dự thi Hội đông vì số người đỗ thi Hương nhiều. Năm Hồng Đức 14 (1483), Lê Thánh Tông quy định các xứ Hải Dương, Sơn Nam, Tam Giang (sau đổi là Sơn Tây), Kinh Bắc, mỗi khoa thi Hương lấy đỗ Tứ trường (tức Hương cống) 130 người; các xứ Thanh Hoa, Nghệ An mỗi xứ 60 người; các xứ Thuận Hóa, Yên Bang, Tuyên Quang, Hưng Hóa mỗi xứ 30 người(9). Cứ 1 Hương cống được lấy khoảng 9-10 sinh đồ. Như vậy mỗi khoa thi như thế ở thừa tuyên Nghệ An sẽ có 60 Hương cống và khoảng 540-600 sinh đồ.

    Suốt triều Lê sơ (1428-1527), nhà nước đã mở 29 khoa thi Hương và 27 khoa thi Hội, thi Đình. Nếu mỗi khoa thi Hương như thế, Nghệ An được lấy 60 Hương cống thì tổng số Hương cống Nghệ An sẽ là 60 x 29 = 1.740 người và số Sinh đồ sẽ lớn gấp 9,10 lần như thế. Trong khoảng gần 1.800 Hương cống chỉ có 51 vị đỗ tiếp Tiến sĩ (38 Tiến sĩ trong số đó nay đều thuộc về tỉnh Hà Tĩnh). Số Tiến sĩ trên đất Nghệ An hiện nay chỉ có 13 người (ghi theo thứ tự năm thi đỗ):

    1. Thái Tất Tiên (1435-?): người xã Do Lễ, nay là xã Hưng Nhân, huyện Hưng Nguyên, đỗ Tiến sĩ năm 1466, làm quan đến Tham chính.

    2. Nguyễn Tất Bột (1439-?): người xã Trung Phường, huyện Diễn Châu, di cư vào xã Tông Lỗ, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), đỗ Tiến sĩ năm 1466, làm quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên, thăng Hữu Thị lang, về trí sĩ.

    3. Nguyễn Văn Bính (1439-?): người xã Công Trung, nay là xã Hợp Thành, huyện Yên Thành, đỗ Tiến sĩ năm 1469, làm quan đến chức Hàn lâm.

    4. Nguyễn Thiện Chương (1452-?): người xã Nam Hoa, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, đỗ Tiến sĩ năm 1469 (khi mới 18 tuổi), làm quan đến Hữu Thị lang, vì dâng lời nói thẳng vua không nghe nên xin về trí sĩ khi mới 33 tuổi.

    5. Cao Quýnh (1439-?): người xã Cao Xá, nay là xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, đỗ Giải nguyên, Hội nguyên, thi Đình đỗ Thám hoa năm 1475. Ông nguyên tên là Lỗ, được ngự bút của vua Lê Thánh Tông đổi tên là Quýnh, làm quan đến Đông các Đại học sĩ. Sau khi mất, ông được phong làm phúc thần, đền thờ ông ở làng Phú Trung, tổng Cao Xá, nay thuộc xã Diễn Thành, Diễn Châu.

    6. Lê Giám (1452-?): người xã Phù Long, nay là xã Hưng Long, huyện Hưng Nguyên, đỗ Tiến sĩ năm 1478, làm quan Hữu Thị lang bộ Lại, Nhập thị Kinh diên.

    7. Đặng Minh Bích (1459-?): người xã Bạch Đường, nay là xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, đỗ Tiến sĩ năm 1484, làm quan đến Thượng thư.

    8. Phạm Huy (1470-?): người làng Đông Hải, nay là xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, đỗ Tiến sĩ năm 1493, làm quan tới chức Đô cấp sự trung, từng đi sứ nhà Minh.

    9. Lê Văn Học (1470-?): người xã Lỗi Truyền, nay là xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, đỗ Tiến sĩ năm 1502, làm quan đến chức Tự khanh.

    10. Hoàng Nhạc (1478-?): người xã Hoàng Xá, nay là xã Diễn Lợi, huyện Diễn Châu, đỗ Tiến sĩ năm 1502, làm quan tới chức Giám sát ngự sử, Hữu Thị Lang, từng đi sứ Chiêm Thành, đi sứ nhà Minh.

    11. Chu Tất Thắng (hoặc Tống Tất Thắng?) (1488-?): người xã Nam Hoa, nay là xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, đỗ Tiến sĩ năm 1505 (lúc mới 18 tuổi) làm quan tới chức Thượng thư bộ Lại, Nhập nội hành khiển, tước Nghĩa quận công. Ông mất lúc đánh giặc Man, được phong phúc thần.

    12. Ngô Quang Tổ (1475-?): người xã Hương Cái, nay là xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, đỗ Tiến sĩ năm 1508, làm quan đến Hiến sát sứ.

    13. Nguyễn Chí: người thôn Yên Lãng, xã Hoàng Xá, nay thuộc xã Diễn Lợi, huyện Diễn Châu, có tài liệu còn ghi ông ở huyện Thanh Oai, Hà Tây (có thể sau di cư ra ở đó?). Ông đỗ Hoàng giáp năm 1508, làm quan đến Thị lang, tước Lãng Mỹ hầu, được dân thờ tự là Thượng đẳng thần.

    Ngoài 13 vị Tiến sĩ nêu trên, Nghệ An thời Lê sơ còn có nhân vật Đinh Bộ Cương rất nổi tiếng. Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch chép về ông: “Đinh Bộ Cương người xã Cao môn” (sau đổi là xã Đức Nhuận, nay là xã Thanh Liên, huyện Thanh Chương - HSH chú).

    Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Quang Thuận thứ 8 (1467), vua Lê Thánh Tông sai đề cử 10 người sung vào các chức nội nhiệm. Thái bảo là Lê Niệm cử Lương Thế Vinh. Đô đốc Trịnh Văn Sái cử Hộ khoa cấp sự trung Đặng Thục Giáo… Vua xem các bản tâu thấy có nhiều người không xứng chức, bèn gạt bỏ bọn Lương Thế Vinh mà chỉ để lại tên giáo thụ Nguyễn Nhân Túy và huyện quan Đinh Bộ Cương. Các quan triều đình không ai không kinh hãi cho vua là sáng suốt. Sau đó lấy Đinh Bộ Cương làm Giám sát ngự sử đạo Hải Dương. Đời Lê Hiến Tông, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 (1499) thi Đình, sai Thượng thư bộ Hình Đinh Bộ Cương làm Giám tám thí (10) (11).

    Bùi Dương Lịch còn bình luận về nhân vật Đinh Bộ Cương trong Thanh Chương huyện chí như sau: “… xét trong bài vị thờ tại Văn miếu bản huyện không có ông. Phải chăng tiền bối không thấy tên ông trong đăng khoa lục. Nói về văn chương đức nghiệp, Đinh tướng công lọt vào thịnh tuyển bút phê Quang Thuận thứ 8, chẳng phải là đại đình văn chương sao? Trải Hình bộ Thượng thư hai triều của thời thịnh Lê, chẳng phải là đức nghiệp sao? Huống hồ hai chữ Thượng thư đâu dễ mạo xưng… Khoa mục của Đinh Bộ Cương có hay không chưa dám chắc, nhưng chức danh Thượng thư và từng được nhà vua ngự bút tuyển chính trực để trở thành người phá thiên hoang cổ trại - khai khoa cả một vùng, từng là quan minh chính thịnh triều. Đó là những phù di thánh huấn…” (12).

    Sách Khoa bảng Nghệ An phần Bổ di còn kể tên một số vị Hương cống. Ở Diễn Châu có Ngô Mậu Cử (người xã Lý Trai) đậu năm 1506; Trần Quốc Duy (người thôn Đan Trung, xã Diễn Thắng) đậu năm nào chưa rõ nhưng sau đó dự thi Hội trúng trường năm 1463. Ở Hưng Nguyên có Phạm Tán (người làng Trường Xá) đậu năm 1475; Trần Tài (người làng Biện Thịnh, nay thuộc xã Hưng Lộc, Thành phố Vinh) đậu năm 1505. Ở Quỳnh Lưu có Hồ Thế Vinh đậu năm nào chưa rõ nhưng con ông là Hồ Thiên Duệ đậu đời Hồng Đức (1470-1497). Quỳnh Lưu còn có Hồ Văn Vĩ đậu đời Đoan Khánh (1505-1509), làm quan Lang trung, Đại lý tự thừa, tước Nghĩa Phương Nam; Hồ Doãn Văn đậu Hương cống, thi Hội trúng trường, làm quan Nho lâm cục Học sĩ; các con ông về sau sống ở làng Tam Thọ (nay thuộc huyện Yên Thành) là Hồ Minh Đạt, Hồ Nhược Thủy, Hồ Thế Vinh đều đậu Hương cống trong khoảng các niên hiệu Đoan Khánh (1505-1509), Hồng Thuận (1509-1516), Quang Thiệu (1516-1522) (13).

    Như vậy, nếu tính toàn bộ số Tiến sĩ trên trấn Nghệ An là 51 vị (14) trên tổng số 988 vị Tiến sĩ của cả nước thì tỷ lệ 5,26% có thể minh chứng rằng Nghệ An đã có nền giáo dục bước đầu phát triển. Nhưng nếu xét số Tiến sĩ thực có trên vùng đất hiện nay thuộc tỉnh Nghệ An thì chỉ là 13 người, tỷ lệ Tiến sĩ Nghệ An so với cả nước mới chỉ có 1,3% thì vùng đất hiện nay thuộc tỉnh Nghệ An thời Lê sơ vẫn còn là vùng lạc hậu dẫu có Thám hoa Cao Quýnh và nhân vật Đinh Bộ Cương được vua thánh Lê Thánh Tông rất mực đề cao; dẫu có Hồ Doãn Văn được giữ chức Học quan ở Tú lâm cục - một trong Tam quán buổi đầu triều Lê, nơi dành cho con em quan lại vào học nên các Học quan đều được chọn lựa kỹ lưỡng. Tuy vậy, nhờ có vai trò quan trọng trong kháng chiến chống Minh, giúp Lê - Trịnh chống họ Mạc (thế kỷ XVI), chống họ Nguyễn (thế kỷ XVII) và quan hệ chặt chẽ với Thăng Long, nên Nghệ An nói riêng và xứ Nghệ nói chung nhanh chóng phát triển về mọi mặt, trở thành vùng đất văn vật bậc nhất nước trong các thế kỷ sau./"


    - Nếu anh chị có thông tin thêm về cụ Nguyễn Thiện Chương thì gửi cho tôi nhé.

    - Xin chân thành cảm ơn các anh chị.
    Chữ ký của Dr.NHTT





    Sun Feb 27, 2011 4:12 pm


    Thành viên cấp 2

    B754

    Thành viên cấp 2

    Xem lý lịch thành viên
    Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ: Thành viên
    Ngày tham gia Ngày tham gia: 13/11/2010
    Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi: 48
    Điểm thành tích Điểm thành tích: 51
    Được cám ơn Được cám ơn: 4

    Bài gửiTiêu đề: Re: Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)

     
    Đồng chí ơi, cảm ơn những tư liệu rất rõ ràng và chi tiết của đồng chí, nhưng có điều là hình như triều Lê sơ ko kéo dài đến tận năm 1789 đâu.
    Chữ ký của B754





    Sun Feb 27, 2011 10:07 pm


    Thành viên mới gia nhập

    Dr.NHTT

    Thành viên mới gia nhập

    Xem lý lịch thành viên
    Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ: Thành viên
    Ngày tham gia Ngày tham gia: 26/02/2011
    Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi: 2
    Điểm thành tích Điểm thành tích: 2
    Được cám ơn Được cám ơn: 0

    Bài gửiTiêu đề: Re: Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)

     
    B754 đã viết:
    Đồng chí ơi, cảm ơn những tư liệu rất rõ ràng và chi tiết của đồng chí, nhưng có điều là hình như triều Lê sơ ko kéo dài đến tận năm 1789 đâu.

    - Anh/chị cho tôi hỏi thông tin trên có chính xác không? Anh chị có tài liệu nào về cụ Nguyễn Thiện Chương không?
    - Xin cảm ơn anh chị.
    Chữ ký của Dr.NHTT




     

    Đại Việt thế kỉ XV – Thời Lê Sơ (1428 - 1789)

    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 1 trang

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
     ::  ::  :: -
    ________________________________________________________________________
    Copyright ©2007 - 2009, Forumotion
    Suhoctre ©2007- 2009 Phát triển bởi thành viên Diễn đàn
    BQT Diễn đàn: Châu Tiến Lộc - Nguyễn Thị Trang - Phạm Ngọc Thạch

    Sáng lập viên : Châu Tiến Lộc, Nguyễn Hùng Sơn, Nguyễn Thái Bình
    Email : suhoctre@gmail.com - Forum : http://suhoctre.no1.vn
    Xem trang web này tốt nhất với độ phân giải 1024x768 (hoặc cao hơn) với Firefox 3.0


    Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog