Trợ giúpTrang ChínhNhómThành viênĐăng kýĐăng Nhập
DIỄN ĐÀN SỬ HỌC TRẺ - Điểm hẹn của những người đam mê Sử học từ khắp mọi miền Tổ quốc.
News & Announcements
  • Muzik
99 nhà chúng ta đâu rồi???
thi trắc nghiệm sử
Giáo viên dạy Sử hiến kế tận dụng 50 phút làm bài thi trắc nghiệm
Câu lạc bộ Sử Học Trẻ thông báo
[Khối C nên học #ngành gì và #trường nào?]
Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
200 câu hỏi trắc nghiệm lịch sử việt nam lớp 12
142 Câu hỏi trắc nghiệm lịch sử thế giới lớp 12
CẦN LÀM NGAY
Vị tướng đầu tiên được lập bia tại Văn Miếu (Quốc Tử Giám)
ĐỀ CƯƠNG LỊCH SỬ VIỆT NAM (1919-2000) - ÔN THI TSĐH & HSG...
bài làm mẫu 1 câu thi HSG quốc gia
TÀI LIỆU BDHSG MÔN LỊCH SỬ 12 - PHẦN LSTG (Từ năm 1945 đến 2000)
Tóm lược Lịch sử quan hệ Việt – Lào từ thế kỷ XIV đến nay
Chế độ ruộng đất Trung Quốc qua hai chế độ điển hình thời Tây Chu và thời Đường
Đề và đáp án kì thi chọn HSG trường THPT Lý Thái Tổ tỉnh Bắc Ninh năm 2014
Đề thi thử môn Lịch sử 2016
35 năm cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn trước 1930
Nguyễn Ái Quốc những hoạt động chủ yếu từ 1919-1930 và vai trò đối với CMVN
Sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân tạo nhà đày Buôn ma thuột
Vị trí ý nghĩa của chiến thắng Buôn ma thuột ngày 10/3/1975
Cuộc đấu tranh chống CNTD tại nhà đày Buôn Ma Thuột tỉnh Dak lak
Lịch sử quan hệ Việt Nam và ASEAN từ 1967 đến 2000
Nguyên nhân phát triển của các nước tư bản sau chiến tranh Tg2
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
Trang Trang
baitap1123
Minh Nhựt
tranminhnhut
fudo85
fudo85
Vuhoangsonhn
potato
fudo85
vietnamnet102
vunamhoang
lliver1
y2k
y2k
y2k
y2k
y2k

Share | 


 

 Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : 1, 2  Next
Sun Oct 17, 2010 5:22 pm

avatar
Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Cảm ơn lịch sử!!

ĐIỀU HÀNH VIÊN

Trang Trang

ĐIỀU HÀNH VIÊN

Xem lý lịch thành viên https://www.facebook.com/khanhtrangpi
Họ & tên Họ & tên : Trang
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Phó Chủ nhiệm CLB Sử học Trẻ - Trưởng ban Điều hành Diễn đàn
Huy chương thành tích Huy chương thành tích :
Ngày tham gia Ngày tham gia : 20/02/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 742
Đến từ Đến từ : Đăk Lăk
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Cảm ơn lịch sử!!
Điểm thành tích Điểm thành tích : 1279
Được cám ơn Được cám ơn : 208

Bài gửiTiêu đề: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

I. Nước Văn Lang - Họ Hồng Bàng (2879 (?) - 258 tr.CN)

Đây là giai đoạn mang tính chất nửa lịch sử nửa thần thoại khi con người Việt cổ còn chưa có chữ viết. Lịch sử chỉ được ghi nhớ lại qua truyền khẩu mà thôi.

Dựa vào truyền thuyết, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên viết rằng Lộc Tục lên làm vua vùng đất phía Nam núi Ngũ Linh (Quảng Đông) vào năm 2879 trước Công Nguyên. Lộc Tục lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Cương vực Xích Quỷ khá rộng lớn, phía Bắc là núi Ngũ Linh, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (sau này là vương quốc Champa), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên) và phía Đông là biển Nam Hải.

Kinh Dương Vương lấy nàng Thần Long, con gái của chúa hồ Động Đình sinh được một người con là Sùng Lãm. Sùng Lãm lên làm vua thay Kinh Dương Vương lấy hiệu là Lạc Long Quân. Tương truyền rằng Lạc Long Quân có gốc rồng từ dòng họ của mẹ nên thường ở dưới động nước. Khi người dân có việc cần giải quyết, thường đến trước động nước kêu to lên: "Bố ơi, ở đâu? Hãy đến với ta". Thế là Lạc Long Quân liền lên cạn giải quyết mọi việc khó khăn cho dân chúng.

Lạc Long Quân gặp được Âu Cơ và lấy nàng làm vợ. Họ sinh ra một trăm người con trai (hoặc 100 trứng).

Một hôm, khi các người con trai đã trưởng thành Lạc Long Quân nói với nàng Âu Cơ: "Ta là giống rồng, sống dưới nước, nàng là tiên, sống trên cạn. Thủy hỏa khắc nhau, không sống lâu bền với nhau được".

Thế là hai người chia tay. Năm mươi người con ở lại với cha dưới động nước. Năm mươi người con kia theo mẹ lên cạn. Họ đến sống ở đất Phong Châu (Vĩnh Phú), tôn người con cả lên làm vua và cùng nhau xây dựng cơ đồ. Cũng từ truyền thuyết này mà người Việt vẫn cho rằng tổ tiên của mình là tiên rồng.

Người con cả lên làm thủ lĩnh vùng đất mới. Đó là Hùng Vương thứ nhất. Bắt đầu một thời đại mà sử sách gọi là thời đại Hùng Vương. Hùng Vương đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Bạch Hạc (Việt Trì, Vĩnh Phú). Vua chia nước ra làm 15 bộ. Đa số các em của vua cai trị các bộ này. Họ được gọi là Lạc tướng và có quyền cha truyền con nối.

Dưới các bộ là các công xã nông thôn có các Bố chính tức là các già làng đứng đầu. Vua có một hàng ngũ quan chức để giúp mình trị nước. Các quan ấy được gọi là Lạc hầu. Các con trai của vua gọi là Quan lang còn con gái thì gọi là Mị Nương (mệ). Đó là tổ chức nhà nước sơ khai đầu tiên của dân tộc Lạc Việt.

II. Nước Âu Lạc và Thục An Dương Vương (258-207)

Có nhiều giả thuyết về trường hợp An Dương Vương lên làm vua nước Âu Lạc. Theo một số sách sử như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên), Việt Sử Tiêu án (Ngô Thời Sỹ), An Dương Vương tên là Thục Phán, nguyên là thủ lĩnh xứ Thục (hiện nay chưa xác định được xứ Thục ở đâu). Vào năm 257 trước Công Nguyên, Thục Phán đem quân đánh Hùng Vương thứ Mười Tám. Hùng Vương cậy mình có binh hùng tướng mạnh, không lo phòng bị, chỉ ngày đêm uống rượu, đàn hát. Quân Thục Phán tấn công bất ngờ, Hùng Vương không chống cự được, phải nhảy xuống giếng tự tử.

Nhưng, lại có giả thuyết cho rằng Thục Phán là thủ lĩnh người Tây Âu, cư trú trên địa bàn phía Bắc nước Văn Lang. Vào năm 214 tr. CN. Tần Thủy Hoàng (Hoàng Đế Trung Hoa) sai tướng là Đồ Thư sang đánh đất Bách Việt. Người Tây Âu và người Lạc Việt cùng nhau đứng lên chống quân Tần. Sau khi thành công đuổi được quân xâm lăng, Hùng Vương thứ Mười Tám nhường ngôi cho Thục Phán.

Dù tình huống lên ngôi của Thục Phán chưa được xác định rõ ràng, nhưng tất cả đều công nhận sự việc Thục Phán hợp nhất vùng đất của mình vào Văn Lang mà lập nên nước Âu Lạc.

Thời An Dương Vương được chép lại vẫn nhiều tính chất hoang đường, truyền thuyết. Như truyền thuyết thần Kim Quy giúp vua xây thành Cổ Loa và tặng chiếc nỏ thần để giữ cơ đồ.

Triệu Đà là quan úy quận Nam Hải, cho quân tiến đánh Âu Lạc nhiều lần nhưng không thành vì Âu Lạc có thành Cổ Loa hiểm yếu cùng chiếc nỏ thần diệu trấn giữ. Triệu Đà bèn hòa hoãn, cầu hôn con gái của An Dương Vương cho con trai của mình là Trọng Thủy. An Dương Vương đồng ý. Trọng Thủy ở rể tại Âu Lạc ba năm để do thám và tráo được lấy nỏ. Vì thế khi quân Triệu Đà kéo đến thì nỏ thần mất hiệu nghiệm. Quân Âu Lạc tan vỡ. An Dương Vương đem M?Châu lên ngựa chạy loạn. Đến núi Mộ Dạ (Nghệ An), thần Kim Quy hiện lên, lên án M?châu là giặc. An Dương Vương liền chém chết con gái và nhảy xuống bể tự tử. Dân Việt mất nền tự chủ từ đấy cho đến ngàn năm sau.

III. Trạng thái kinh tế thời Hùng Vương - An Dương Vương

Vào thời kỳ này, tuy sinh hoạt săn bắn và hái lượm vẫn còn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của cư dân, nhưng nghề chài lưới và nghề nông đã có những bước phát triển đáng kể.

Thời ấy, ngư dân vẫn thường hay bị những loài cá dữ sát hại. Vua Hùng bèn dạy cho dân cách xâm trên mình hình ảnh những con cá sấu để thủy quái tưởng lầm là đồng loại mà không sát hại nữa. Từ đó dân Lạc Việt có tục xâm mình. Tục này kéo dài đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới dứt.

Nghề đánh cá đã phát triển với các dụng cụ đánh bắt như lưới có chì lưới bằng đất nung, lưỡi câu bằng đồng thau, mũi lao có ngạnh bằng xương.

Vua Hùng lại chỉ cho dân cách trồng lúa và chính bản thân vua vẫn hàng năm lên núi cầu trời đất cho được trúng mùa. Chỗ núi vua lên khấn vái lúa về sau được gọi là núi Hùng (thuộc xã Hy Cương, huyện Phong Châu, Vĩnh Phú). Thuở ấy Văn Lang có ruộng lạc, tức là ruộng ở chỗ trũng nằm ven sông Hồng, sông Mã. Dân theo thủy triều lên xuống mà làm ruộng, được gọi là Lạc dân. Lạc dân dùng phương pháp thủy nậu để cấy lúa bằng cách lấy chân đạp cho cỏ sụt bùn rồi mới lấy cấy lúa lên. Thoạt tiên đó là những giống lúa hoang. Về sau được Lạc dân thuần dưỡng để trở thành hạt gạo nếp thơm dẻo. Nhưng dân Lạc không chỉ độc canh cây lúa mà còn trồng các loại rau củ, cây trái nữa. Qua các sự tích ta thấy đã có trầu cau, dưa hấu. Ngoài ra còn có khoai đậu, trồng dâu, nuôi tằm.

Kỹ thuật luyện kim phát triển mạnh, cư dân Lạc Việt đã biết làm ra những công cụ sản xuất bằng kim loại như rìu đồng và quan trọng nhất là cày đồng và lưỡi hái bằng đồng ảnh hưởng mạnh đến sinh hoạt nông nghiệp. Lưỡi cày thời ấy có hình cánh bướm hoặc hình tam giác. Và xuất sắc đặc biệt là dân Lạc Việt đã đúc nên những chiếc đồng phức tạp đòi hỏi một trình độ kỹ thuật văn hóa cao.

Những dụng cụ sinh hoạt như mâm đồng, đục, kim dao, lưỡi câu, chuông và đồ trang sức cũng được sản xuất với số lượng đáng kể. Ngoài ra, đã có nghề luyện sắt (di tích Gò Chiền Vậy) và nghề gốm.

IV. Đời sống văn hóa

1. Văn hóa vật chất

1.1. Cư trú

Nhà được dựng theo kiểu nhà sàn. Nguyên liệu là gỗ, tre, nứa, lá. Nhà có mái cong hình thuyền hoặc mái tròn và sàn thấp. Nhà chưa có vách, đuôi mái gối sát sàn nhà. Cầu thang lên đặt trước nhà.

Các ngôi nhà được bố trí quây tụ ở ven đồi, đỉnh gò, chân núi, nếu gần sông suối thì nằm trên các giải đất cao để tránh lụt lội.

1.2 Trang phục

* Đầu tóc: có 3 kiểu chính

Cắt ngắn ngang vai dùng cho cả nam lẫn nữ
Búi tóc búi lên đỉnh đầu, có trường hợp chít khăn lên búi tóc. Loại kiểu tóc này cũng được cả nam lẫn nữ sử dụng. Về nữ, có trường hợp chít khăn lên búi tóc.
Loại kiểu tóc kết đuôi sam và có vành khăn nằm ngang trán thì chỉ dùng cho phụ nữ.
* Mặc: Cách phục sức đã có sự phân biệt nam nữ. Nữ mặc váy, thân để trần, đi chân đất. Váy có hai kiểu là kín và mở, ngắn đến đầu gối, có khi có đệm váy. Phụ nữ giàu có ăn mặc có phần chải chuốt hơn, khăn chóp nhọn trùm lên búi tóc, đủ cả váy, áo và yếm, áo cánh xẻ ngực, thắt lưng có trang trí. Váy kín có trang trí, buông chùng đến gót chân, đệm váy có hình chữ nhật cũng có trang trí, thả trước bụng hay sau mông.

Nam đi chân không, ở trần, mặc khố. Khố có hai kiểu, kiểu quấn một vòng và kiểu quấn hai vòng. Có đuôi thả đàng sau.

Trang phục lễ hội không phân biệt nam nữ. Thường là váy kết bằng lá hay bằng lông vũ. Mũ kết bằng lông chim có cắm thêm bông lau ở phía trên hoặc phía trước.

Đồ trang sức: người thời Hùng Vương cả nam lẫn nữ đều rất ưa thích dùng dùng đồ trang sức. Nam cũng như nữ đều đeo vòng tai. Ngoài ra, các trang sức hạt chuỗi, nhẫn và vòng tay rất phổ biến.

Hình dáng của vòng tay rất đa dạng: hình vành khăn, hình tròn, hình tròn có mấu. Hạt chuỗi có hình trụ, hình trái xoan, hình tròn. Vòng nhẫn hình tròn hoặc hình bện thừng. Vòng tay có tiết diện chữ nhật, hình ống, hoặc có cánh.

Chất liệu của các đồ trang sức là những kim loại cao cấp như vàng bạc. Thường là bằng đá, đồng thau, rất ít khi bằng ngọc nhưng được tạo thành với khiếu thẩm mỹ cao.

1.3 Ăn uống

Thức ăn chính là gạo nếp tẻ, đã có dụng cụ bếp núc như nồi, chõ. Sách Lĩnh Nam Chích Quái ghi lại là dân Lạc đã biết làm mắm: "Lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm". Họ cũng biết làm rượu, làm bánh.

Thức ăn thường là cá, gà, vịt, chim, heo, chó, trâu, hươu, nai, cáo, khỉ, ba ba, rùa, cua ốc... với các hương liệu: gừng muối, trầu cau, đất hun.

2. Văn hóa xã hội

2.1 Hôn nhân

Có một số tục lệ như lấy gói đất, gói muối tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng. Vì thế có câu: "Tục hôn nhân lấy gói đất (hoặc lấy gói muối) làm đầu". Một số nghi thức khác trong hội lễ ghi nhận được là ném bùn, ném đất và hoa quả vào người chàng rể. Nghi thức chủ yếu nhất là hai vợ chồng mới ăn chung bát cơm nếp. Sau khi ăn bát cơm nếp, họ được cộng đồng công nhận là vợ chồng.

2.2 Tang ma

Khi trong nhà có người chết, người ta giã vào cối, đó là tín hiệu thông tin cho hàng xóm, láng giềng biết để đến giúp đỡ.

Người chết có quyền đem theo một số tài sản để sử dụng trong cuộc sống khác. Các đồ tùy táng là những đồ dùng hàng ngày và đồ trang sức.

Thời ấy người chết được hỏa táng hay được chôn cất. Các nhà khảo cổ học đã đào được các quan tài độc mộc. Đó là một thân cây khoét rỗng có hình dáng giống như chiếc thuyền độc mộc.

2.3 Phong tục khác

Khi trẻ sơ sinh ra đời, dân Lạc có tục lệ lót ổ cho trẻ bằng lá chuối tươi. Khi trẻ lớn lên được làm lễ thành đinh, Lễ thành đinh mang tính thử thách năng lực của các thanh niên, thường được tổ chức những buổi thi tài trong các ngày hội. Sau lễ thành đinh, thanh niên trở thành thành viên lao động mới của xã hội.

3. Văn hóa tinh thần

3.1 Vẽ: Nghệ thuật vẽ đã rất phổ biến với các hoa văn đa dạng trên các đồ gốm, trên các trống đồng. Không những thế cư dân Văn Lang đã biết dùng màu để vẽ. Tục xăm mình là một minh chứng về nghệ thuật vẽ màu của người Văn Lang.

Đề tài chính của nghệ thuật này là con người đang hoạt động, đang sống hồn nhiên. Đó là quang cảnh nhảy múa, thổi khèn, giã cối... hoặc là quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Mặt trống đồng như một vũ trụ mà trung tâm là mặt trời. Hoạt động của con người quây tròn chung quanh mặt trời đang tỏa sáng.

3.2. Nghệ thuật tạo tượng phát triển rất cao. Chất liệu là đất nung, đồng thau, đá... những bức tượng mang dáng vẻ rất hồn nhiên, sinh động, ví dụ như bức tượng người ngồi thổi khèn, tượng người cõng nhau nhảy múa thổi khèn cho thấy sự thoải mái, thanh nhàn trong cuộc sống đơn giản. Bên cạnh đề tài là con người còn có các động vật gần trong sinh hoạt của con người: gà, chó, chim...

3.3 Âm nhạc

Qua các hiện vật khảo cổ tìm được qua hình ảnh trên các trống đồng, ta thấy cư dân Văn Lang rất ưa ca hát, nhảy múa. Họ hát đối đáp, đánh trống, đánh cồng hoặc hòa tấu cùng nhau với đủ các dụng cụ âm nhạc mà họ đã sáng tạo được như sau:

Trống đồng có âm thanh dũng mãnh-trống da-Cồng chiêng (mỗi giàn chiêng có từ 6 đến 8 chiếc)-Chuông nhạc-Phách-Khèn...

3.4 Hội lễ

Hội lễ là một phần trong cuộc sống của dân Lạc. Trong các buổi lễ hội có những sinh hoạt như sau:

Tục lệ đánh trống đồng: hoặc do một người đánh hoặc hòa tấu từng cặp trống đực cái, người đánh trống bận lễ phục hình chim ở tư thế ngồi hay đứng.

Múa nhảy ca hát: Người trình diễn cũng bận lễ phục hình chim, có múa hóa trang, múa vũ trang, múa hát giao duyên nam nữ. Múa hóa trang thường đội mũ có gắn lông chim, có từ ba đến bảy người, có người cầm vũ khí, cầm khèn.

Hội giã cối: từng đôi nam nữ cầm chày dài giã cối tròn tạo nên hình ảnh tượng trưng cho sự sinh phồn.

Các cuộc đua thuyền hào hứng với những chiếc thuyền độc mộc mình thon, mũi cong, đuôi én.

Mọi sinh hoạt trên đều gắn với điều cầu mong thiết thực của cuộc sống như mong mưa thuận, gió hòa, mong được mùa, mong sinh sản được nhiều.

3.5 Tín ngưỡng: dân Lạc thờ các lực lượng thiên nhiên (thần núi, thần sông, thần đất); thờ các vật thiêng (thần rồng, chim, hổ); thờ anh hùng (Phù Đổng).

3.6. Truyện kể: thời đại Hùng Vương - An Dương Vương để lại trong nền văn hóa dân tộc một kho tàng truyện kể phong phú, giúp ta hình dung được phần nào cách sống của người thời ấy. Truyện Trầu Cau nói về nguồn gốc của thói quen ăn trầu. Truyện Bánh Chưng Bánh Dày giải thích quan niệm trời tròn đất vuông cùng tục nấu bánh chưng của người Việt vào các dịp Tết. Truyện An Tiêm cho biết thời ấy con người đã biết trồng trọt. Truyện Sơn Tinh-Thủy Tinh là cách giải thích mộc mạc nhưng rất trữ tình về nạn lụt lội hàng năm ở miền quanh núi Ba Vì. Mối tình thơ mộng giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử được cụ thể hóa bằng hình ảnh đầm Dạ Trạch và bãi Tự Nhiên. Tinh thần yêu nước được sớm tuyên dương qua hình ảnh của Phù Đổng Thiên Vương. Các truyền thuyết thần thoại ấy đã được kể từ thế hệ này đến thế hệ khác, truyền mãi đến nay, qua biết bao thời gian mà vẫn giữ được tính tưởng tượng dồi dào của người Lạc xưa.

V. Di tích tiêu biểu

Thời gian đã tàn phá hầu hết di tích của thời Hùng Vương, ta chỉ có một số dấu tích được xây dựng vào các thế kỷ sau với mục đích tưởng nhớ thời dựng nước. Đó là trường hợp Đền Hùng. Còn trong trường hợp thành Cổ Loa, đã phải nhờ đến khảo cổ học để vạch lại một số đường nét của dấu vết xưa.

Đền Hùng

Ngọn núi Hùng tọa lạc ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú. Nơi đây vào ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm và phát biểu cùng các chiến sĩ.

"Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"

Núi Hùng cao 175m và có khoảng 150 loài thực vật. Rải từ chân núi lên đến đỉnh là cụm di tích lịch sử, văn hóa Đền Hùng, gồm có ba cụm kiến thức, tính từ dưới lên là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, nằm cách nhau theo cao độ.

Vòm cổng vào đền nằm ở chân núi phía Tây. Hai bên cột có hai câu đối với ý nghĩa như sau:

"Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông qui một mối, Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tựa đàn con" (dịch từ chữ Hán)

Từ cổng leo lên 225 bậc thềm ta đến được đền Hạ. Đền này được xây vào khoảng thế kỷ XVIII theo kiểu chữ nhị, là nơi mà theo truyền thuyết, Âu Cơ đã đặt cái bọc trăm trứng cầu khẩn cho nở thành trăm người con trai. Ngoài đền Hạ còn có gác chuông và chùa Thiêng Quang, được xây vào thời Lê (thế kỷ thứ XV). Trước cửa chùa có cây thiên tuế.

Đền Trung nằm cao cách đền Hạ 168 bậc thềm. Đây là ngôi đền được xây dựng trước nhất của cụm kiến trúc đền Hùng, vào khoảng thế kỷ XIV. Sau đó đền bị hư hại đến thế kỷ XVII thì được trùng tu lại và tồn tại cho đến nay. Đền được xây theo kiểu chữ nhất. Tương truyền nơi đây ngày xưa các vua Hùng bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng và cũng là nơi Lang Liêu dâng bánh chưng, bánh dầy lên vua Hùng thứ sáu.

Đền Thượng được xây dựng từ thế kỷ XV, đến đầu thế kỷ XX, đền được trùng tu lại. Đền ở gần đỉnh núi, cách đền Trung 102 bậc thềm, là nơi ngày xưa các vua Hùng cùng các bô lão làm lễ tế trời, khấn thần lúa, và là nơi vua Hùng thứ Sáu lập đền thờ Thánh Gióng sau khi thắng giặc Ân. Mộ Tổ (lăng HùngVương) nằm gần đền Thượng. Trước đây, mộ Tổ chỉ là một mô đất. Vào năm 1874 mộ được xây dựng lại như kiểu dáng ngày nay. Tương truyền đấy là mộ của vua Hùng thứ Sáu.

Sau núi, về phía Đông Nam còn có đền Giếng với giếng Ngọc, được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ XVIII, là nơi các con gái vua Hùng xưa thường soi bóng chải tóc.

Hiện nay tại khu di tích này còn được xây dựng thêm nhiều công trình phụ, trong đó đáng kể là bảo tàng Hùng Vương, giúp cho ta hình dung được một phần nào cuộc sống, sinh hoạt của cư dân Lạc Việt.

Mỗi năm, vào mùa xuân, dân chúng từ mọi miền kéo về đây làm giỗ Tổ theo câu ca dao cổ nhắc nhở:

"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba"

Lễ Hội đền Hùng được kéo dài trong bốn ngày, từ mồng 8 đến 11 tháng ba âm lịch, và ngày chính hội, như câu ca nhắc nhở, là ngày mồng mười. Đông đảo dân chúng từ ngày mồng 8 đã kéo đến thăm và dâng hương tại cả ba đền. Vào ngày chính hội, buổi quốc lễ được cử hành để nhắc nhở mọi người đến cội nguồn của mình. Lễ vật để cúng không thể thiếu là bánh chưng, bánh dày, để nhớ đến công ơn vua Hùng đã dạy dân trồng lúa cùng sự tích Lang Liêu. Ngoài ra còn có cỗ tam sinh gồm lợn, bò, dê nguyên con, cạo lông. Lợn để sống, mỡ chài phủ kín toàn thân, còn bò và dê thì được thui vàng, cộng với xôi màu trắng, tím, đỏ, thật đủ màu sắc.

Sau buổi quốc lễ là các tiết mục truyền thống như đám lễ rước, múa hát xoan, ca trù, ném còn, đu tiên, chàm thau, đâm đuống, bắn nỏ, đấu vật. Đám rước có voi nan, ngựa gỗ, kiệu, lọng, cờ xí. Người rước đi từng bước một trong nhịp chiêng trống. Đến đền Hạ, những người vác cờ chạy quanh đền, còn các chiếc kiệu lại rập rình làm động tác kiệu bay.

Múa hát xoan (xoan là xuân) là dân ca Vĩnh Phú, có một kép đánh trống và bốn cô đào hát thơ và dâng hương.

Trò "ném còn" còn được gọi là trò "tung còn tìm bạn tình", là một trò chơi hào hứng trong các dịp lễ hội dân gian. "Còn" là một trái bằng vải, có hình vuông tám múi, bên trong lèn chặt các hạt bông. Các góc của trái "còn" được đính thêm cái giải vải màu sặc sỡ. Một sợi dây chắc, dài, được gắn vào một góc "còn". Dây này cũng được kết vải ngũ sắc, dùng để cầm và quay trái còn lên cao tít. Khi chơi, hai bên nam nữ đứng cách nhau, tung "còn" qua một vòng tròn bằng tre treo trên một cây tre trồng ở giữa. Ai tung được một đường "còn" uốn lượn rồi chui qua vòng thì sẽ được nhiều điều may mắn. Chàng trai thương một cô gái nào thì tung thẳng "còn" vào cô ấy. Nếu cô gái bắt lấy và tung trở lại cho chàng trai, ấy là cô gái đồng ý. Tung qua, ném lại, tạo nên những đường còn lả lướt là dấu hiệu của hạnh phúc sẽ tới.

Trò đu tiên thường được diễn ra ở sân đền Hạ. Từng đôi cô gái, áo váy sặc sỡ, trang điểm xinh tươi, đạp chân cho bàn đu quay. áo váy bay phất phới trong tiếng hát:

Này lên, này lên, này lên
Lên non Cổ Tích, lên đền Hùng Vương
Đền này có thờ Tổ Nam phương

Ba lần "Này lên" tương ứng với ba độ cao khác nhau của ba ngôi đền Hạ, Trung, Thượng

Hội đền Hùng càng rộng ràng trong tiếng "chàm thau" (đánh trống đồng) dũng mãnh của các chàng trai, tiếng "đâm đuống" (giã gạo) nhịp nhàng của các cô gái, đưa người thưởng lãm trở về một không gian xã hội xa xưa, bình dị nhưng sống động của người Việt.

Thành Cổ Loa

Khi lên làm vua, An Dương Vương hợp nhất hai nhóm dân tộc Tây Âu và Lạc Việt, lập ra nước Âu Lạc. Sau đó, nhà vua cho dời đô từ Phong Châu về Phong Khê và hạ lệnh xây thành Cổ Loa để bảo vệ kinh đô. Thành Cổ Loa xưa tọa lạc tại địa điểm xã Loa ngày nay, thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.

Bối cảnh địa lý, xã hội

Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí trung tâm của đất nước và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy. Đó là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hồng. Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình. Như vậy, về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc bộ vào thời ấy. Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ. Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả, còn nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam.

Phong Khê hồi ấy là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và săn bắn. Việc dời đô từ Phong Châu về đây có ý nghĩa lịch sử quan trọng, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân Việt, đánh dấu giai đoạn người Việt thiên cư từ vùng Trung du, rừng núi về định cư tại vùng đồng bằng. Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp các cánh đồng bằng phẳng đã được khai thác có quy mô; trong công nghiệp sự sản xuất các công cụ như cuốc, cày, hái bằng sắt đã tăng tiến.

Kỹ thuật xây thành

Theo sử cũ, thành được xây quanh co chín lớp, chu vi chín dặm, sâu nghìn trượng, xoáy tròn như hình ốc, cho nên được gọi là Loa Thành ("loa" có nghĩa là con ốc). Thành còn có tên nôm là Chạ Chủ và nhiều tên khác như Khả Lũ ("lũ" có nghĩa là quanh co nhiều lớp), Côn Lôn thành (ý nói thành cao như núi Côn Lôn bên Trung Quốc) hoặc Việt Vương thành (thành của vua xứ Việt), dân địa phương gọi bằng tên nôm là thành Chủ.

Để có đất xây thành, An Dương Vương phải cho dời dân tại chỗ đi nơi khác. Theo truyền thuyết thì làng Quậy hiện nay nguyên vốn ở tại Cổ Loa đã phải dời xuống vùng đất trũng cuối dòng sông Hoàng để An Dương Vương xây thành.

Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của nước ta"

Vào thời Âu Lạc, con người chỉ mới làm quen với một ít kỹ thuật sơ khai, công cụ lao động còn rất thô thiển, ít hiệu quả, tất cả công việc đều do bàn tay người mà ra. Muốn xây được công trình với "quy mô lớn vào bậc nhất" này, phải có một số lượng khổng lồ đất đào đắp, đá kè và gốm rải, như vậy, nhà nước Âu Lạc hẳn đã phải điều động một số nhân công rất lớn để lao động trong một thời gian rất dài mới có thể hoàn thành được. Các nhà khảo cổ học cho rằng đã phải có đến hàng vạn người làm việc hàng năm cho công trình này.

Khi xây thành, người xưa đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên. Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm. Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng. Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè.

Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác. Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền núi. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói. Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau. Có cái được nung ở nhiệt độ thấp, có cái được nung rất cao gần như sành. Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai mặt.

Tường thành phía ngoài được xây dựng đứng để gây khó khăn cho đối phương, còn mặt trong thì được xây thoai thoải để dễ dàng lên xuống.

Ba vòng thành Cổ Loa

Hiện nay thành Cổ Loa có ba vòng thành, mỗi vòng thành được gọi bằng tên tương đương với vị trí của thành: thành ở trung tâm được gọi là thành Nội (hoặc thành Trong), bao ngoài thành Nội là thành Trung (hoặc thành Giữa). Vòng ngoài cũng được gọi là thành Ngoại (thành Ngoài).

Thành Nội có hình chữ nhật vuông vức và cân đối, nằm theo chính hướng Đông-Tây, Nam-Bắc, chu vi 1650m. Thành cao trung bình khoảng 5m, mặt thành rộng từ 6m đến 12m, chân thành rộng từ 20m đến 30m.

Trên mặt thành có đắp các ụ đất nhô ra ngoài rìa thành. Các ụ đất này được gọi là hỏa hồi. Có tất cả 12 hỏa hồi đối xứng với nhau. Mỗi cạnh ngắn của thành có hai hỏa hồi giống nhau, mỗi cạnh dài có bốn hỏa hồi dài ngắn khác nhau. Các hỏa hồi dài được bố trí nằm ở gần góc, ở giữa là hai hỏa hồi ngắn hơn.

Thành Nội chỉ có một cửa trổ ngay chính giữa tường thành phía Nam, ắt hẳn là để kiểm soát cho chặt chẽ việc xuất thành nhập thành.

Thành Nội dùng để bảo vệ khu cung cấm của An Dương Vương. Khu này ngày nay là đất Xóm Chùa, thôn Cổ Loa. Nơi đây có đền thờ An Dương Vương và đình Cổ Loa.

Thành Trung bao bọc Thành Nội, không có hình dáng rõ rệt vì người xưa đã tận dụng địa hình thiên nhiên bằng cách đắp nối các gò đất cao hoặc đắp men theo bờ của các đầm hồ. Chu vi khoảng 6.500m. Chiều cao của thành trung bình từ 6m đến 12m. Đoạn cao nhất là Gò Ông Voi ở vào góc Đông-Bắc. Mặt thành rộng không đều, trung bình là 10m. Chân thành rộng gấp hai mặt thành.

Thành Trung có năm cửa: cửa Bắc, cửa Tây, cửa Tây-Nam, cửa Đông, cửa Đông và cửa Nam.

Cửa Đông còn gọi là cửa Cống Song, đó là một con đường thủy nối Đầm Cả với năm con rạch phía trong thành Trung để cung cấp nước cho vòng hào của thành Nội.

Đặc biệt cửa Nam là cửa chung của cả hai thành Trung và thành Ngoại. Hai bức thành này, khi chạy về phía Nam thì được đắp gần nhau và điểm gặp nhau của hai thành được bố trí thành cửa chung. Đây là một điều hiếm có trong lịch sử xây thành của Việt Nam. Cửa Nam còn được gọi là Trấn Nam Môn, là cửa chính và là mặt tiền của thành Cổ Loa nên có hai miếu thờ thần trấn cửa ở ngay trên mặt thành hai bên cửa.

Khu đất nằm giữa thành Trung và thành Ngoại được dùng làm chỗ ở cho quan lại. Như vậy nhà vua được bảo vệ rất kỹ càng.

Thành Ngoại cũng không có hình dáng rõ rệt như thành Trung. Đây là vòng thành dài nhất, vào khoảng 8.000m. Cao từ 3m đến 4m. Đoạn cao nhất đến 8m, gọi là Gò Cột Cờ. Chân thành rộng từ 12m đến 20m

Ngoài cửa Nam là cửa chung với thành Trung, thành Ngoài còn có cửa Bắc (còn gọi là cửa Khâu), cửa Tây Nam và cửa Đông. Các cửa này được bố trí chéo với các cửa thành Trung để gây thêm phần trắc trở cho việc nhập thành.

Cửa Đông là con đường nước nối sông Hoành với cửa Cống Song để chảy vào thành Nội.

Khu đất giới hạn giữa thành Trung và thành Ngoại là nơi doanh trại của quân đội.

Hệ thống hào nước

Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn. Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng.

Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành Ngoại ở về phía Tây Nam và Nam. Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ gò Cột Cờ đến Đầm Cả. Con hào này nối với hào của thành Trung ở Đầm Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hình dáng như bàn tay xòe, và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thông vào vòng hào của thành Nội.

Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi. Theo truyền thuyết, An Dương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hoàng.

ụ, lũy

Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làm phong phú thêm tổng thể kiến trúc này. Đó là những gò đất dài họặc tròn được đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành Ngoại. Ta không biết được có bao nhiêu ụ, lũy như thế, nhưng một số được dân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắn... Các ụ, lũy này được dùng làm công sự, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp với thành, hào trong việc bảo vệ và chiến đấu. Đây cũng là một điểm đặc biệt của thành Cổ Loa.

Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứu kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh. Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.

Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy. Không như buổi đầu của thời đại Hùng Vương khi nhà vua và dân còn cùng nhau đi cày, cùng nhau vui chơi; thời kỳ này vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường. Xã hội đã có giai cấp rõ ràng và ắt hẳn cũng đã phải có sự phân biệt giàu nghèo, sang hèn.

Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa vô cùng quy báu, một bằng chứng về óc sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ. Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều này làm cho thành ốc xứng đáng là biểu tượng linh động cho tinh hoa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân thành ốc tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương. Trong dân gian thường lưu truyền câu ca:

Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc khác thường,
Trải bao năm tháng dấu thành còn đây.



Chữ ký của Trang Trang





Mon Oct 18, 2010 11:28 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Con số 2879 tcn rõ ràng là do NSL và trước đó là LVH tự cho để VN có 1 lịch sử dài lâu ngang với TQ. Ngày nay theo các nhà khoa học, thời đại HV bắt đầu từ khoảng TK 7-8 tcn.

LVH, NSL còn gán cho Lộc Tục là dòng dõi Thần Nông của TQ để cho sang trọng, đó là tư tưởng nhà nho, coi TQ là thiên triều, là nguồn gốc mọi thứ.

Theo 1 số ý kiến thì vòng thành trong cùng của Cổ Loa do Mã Viện xây dựng.
Chữ ký của Thanhsamkhach





Mon Oct 18, 2010 12:27 pm

avatar
phía sau gương mặt giai nhân là một cái đầu lâu......Và bên trong một cái đầu lâu là bộ óc thiên tài

Thành viên cấp 3

anvi_than

Thành viên cấp 3

Xem lý lịch thành viên http://vn.360plus.yahoo.com/dracu_bin_1993/
Họ & tên Họ & tên : Anvi_Than
Ngày tham gia Ngày tham gia : 06/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 217
Đến từ Đến từ : Vô gia cư
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : phía sau gương mặt giai nhân là một cái đầu lâu......Và bên trong một cái đầu lâu là bộ óc thiên tài
Điểm thành tích Điểm thành tích : 368
Được cám ơn Được cám ơn : 92

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Bạn Thachsamkhach. Bạn dẫn nguồn nghiên cứu của các nhà khoa học đi…
Mình nghi đơn giản thế này thôi…
Nếu thời đại Hùng Vương. Thời đại được xem là bắt đầu của nền văn hiến nước nhà chỉ mới xuất hiện khoảng thế kỉ 7-8 TCN là vô lí…Bởi vì…
Một dân tộc chỉ mới tồn tại khoảng 600-700 năm lại có thể kinh qua hơn 1000 năm đô hộ của ngoại bang được ư…Điều đó chắc chắn là không thể…Một dân tộc bị đô hộ ngàn năm dù bị đồng hoá ít nhiều nhưng vẫn giữ được cái gốc rễ người Việt như dân tộc ta…Điều này đã minh chứng dân tộc Việt Nam chắc chắn phải có một nền văn hiến, văn minh rất cao thâm…
Các bạn có thể dễ dàng dùng gúc-gồ để tìm hiểu về điều này…
Qua những lời “nói hớ” của Chính sử Trung Hoa
Qua Trống Đồng…
Qua Hoả tự…
Qua giả thiết con số 18 thật ra chỉ mang nghĩa tượng trưng…
…v…v…
Chữ ký của anvi_than





Tue Oct 19, 2010 7:39 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Thời đại HV được hiểu là sự tồn tại của một nhà nước sơ khai, trên cơ sở các bộ tộc, thị tộc trước đó

Còn dân tộc Việt đã tồn tại hàng chục ngàn năm trước và k0 ngừng tích hợp văn hoá và con ng của các dân tộc khác, cũng như lan toả văn hoá của mình. Có lẽ k0 có một dân tộc Việt riêng biệt cũng như các dân tộc khác, khó có sụ thuần chủng

Nói chung chỉ khi bắt đầu thời đại đồ đồng thì các quốc gia trên thế giới mới thành lập nhà nước đầu tiên theo đúng nghĩa

Chữ ký của Thanhsamkhach





Wed Oct 20, 2010 8:50 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Nguồn gốc số liệu 2879 tcn có lẽ từ một ghi chép trong sách Thượng thư của TQ. Sách chép rằng đời vua Nghiêu có sứ giả nước Việt Thường qua mấy lần thông ngôn đến cống chim trĩ trắng và 1 con rùa trên mai có chữ như hình con nòng nọc (chữ khoa đẩu), vua sai chép lại cất giữ

N ước Việt Thường ở đâu chưa xác định, 1 số nhà nghiên cứu cho rằng ở Nghệ an VN nhưng thuyết ấy nay bị phê phán là sai lầm

Thứ chữ như hình con nòng nọc có lẽ gần với chữ của Ấn độ hay vùng Tây Á hơn

Hoả tự của dân tộc Việt là vấn đề còn đang phải chứng minh

Thời đại HV với văn hoá Đông Sơn và đỉnh cao là trống đồng đã được khẳng định qua sự lan toả của nó sang vùng Đông nam á và nam TQ. Dựa vào mật độ trống tìm thấy có thể xác định trung tâm lan toả là vùng Bắc bộ VN
Chữ ký của Thanhsamkhach





Sat Oct 23, 2010 9:49 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Tồn tại ít nhất 2 cách giải thích về quốc hiệu Văn lang của nước ta

1. Văn lang là 'người xăm mình'
Nghĩa nguyên thuỷ của chữ Văn là hoa văn (tự dạng vẽ hình hoa văn gạch chéo và hình que vẽ)
Lang là chàng trai, chính là nguyên gốc từ 'chàng' của VN
Vì ng Việt thường xăm mình nên có thể tự đặt tên nước như vậy hoặc ng Tàu gọi như vậy (như chúng gọi dân Việt là dân Giao chỉ vì có ngón cái giao nhau)

2. Văn lang là 'người'
Có thể VL là cách phiên từ âm cổ Vlang, Ourang... gì đó của ng Việt chỉ người (đặc biệt chỉ nam giới). Nếu vậy từ 'lang' của ng Hán lại là vay mượn của dân phương Nam chăng?

Một số dân tộc VN vẫn tự xưng là 'người' VD người Mường xưng mình là 'con Mon' (gọi ng Kinh là 'con Tảo', ng Thái là con Dự'...)



Chữ ký của Thanhsamkhach





Thu Oct 28, 2010 3:09 pm

avatar
Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)

Thành viên cấp 2

jushin1993

Thành viên cấp 2

Xem lý lịch thành viên http://hoamoino.wordpress.com
Họ & tên Họ & tên : Jushin
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 23/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 69
Đến từ Đến từ : Sóc Trăng
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)
Điểm thành tích Điểm thành tích : 106
Được cám ơn Được cám ơn : 32

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Đại Việt sử Lược ghi rõ vào tk VII có ông xưng Lạc Vương đóng đô tại Phong Châu.
ĐVSL bị tịch đi qua bên Tàu tới tận thời Trung Hưng mới được lấy về. Do vậy Cụ Ngô Sĩ Liên mới không biết sự tồn tại của niên đại này, bịa ra "thời Ngu Thuấn của Đại Việt" và nước Xích Quỉ, cố căng cái biên giới lên tận Động Đình Hồ, nam lấn tới Chiêm Thành.
Chữ Việt thường 2 lần xuất hiện trong sử Tàu cho thấy nó cũng tồn tại khá dai dẳng, nhưng không lí gì mà do có chữ Việt lại vơ nó thuộc vào Văn Lang ta được. Không có chứng cớ gì cả!.
15 bộ của Văn Lang cũng không thống nhất nữa. Giữa các bộ sử với nhau lại nảy sinh. Có thể thấy nhiều nghi vấn nên được giải quyết trước khi kết luận thời Dựng nước bắt đầu từ 2879 hay sau đó.
Chữ ký của jushin1993





Fri Oct 29, 2010 7:40 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
jushin1993 đã viết:

ĐVSL bị tịch đi qua bên Tàu tới tận thời Trung Hưng mới được lấy về. Do vậy Cụ Ngô Sĩ Liên mới không biết sự tồn tại của niên đại này, bịa ra "thời Ngu Thuấn của Đại Việt" và nước Xích Quỉ, cố căng cái biên giới lên tận Động Đình Hồ, nam lấn tới Chiêm Thành.

Cụ Ngô Sĩ Liên chính là sử thần đời Lê trung hưng
Trước đó có các cụ Lê Văn Hưu thời Trần viết Đại Việt sử kí, Phan Phu Tiên đời cuối Trần, đầu Lê sơ viết ĐVSK tục biên và cụ NSL dựa vào đó để viết ĐVSK toàn thư

Ko có tư liệu để kết luận rằng cụ NSL ko biết đến ĐV sử lược (mà khi qua bên Tàu bị đổi tên thành Việt sử lược còn nội dung có thay đổi ko thì cũng ko biết)

Địa bàn của nước Xích quỉ bắc lên tận Động Đình Hồ, nam lấn tới Hồ tôn có thể là địa bàn chung của các dân tộc Bách Việt. Xem như thời Xuân thu Chiến quốc các nước chỉ ở quanh khu vực Trung nguyên, tới cuối thời đó mới có nước Sở ở phía nam Trường giang, Ngô, Việt ở đông nam và bị coi là dân man di. Thời Hán Sở tranh hùng, dân Sở (quê Hang Vũ) còn bị gọi là 'khỉ đội mũ' làm cho Sở Bá vương tức điên bỏ kẻ nói vụng đó (Hàn sinh) vào nồi luộc

Chữ 'Sở' có tự dạng 'sơ'+'lâm' (theo cách hài thanh) chỉ địa hình nhiều rừng của nước Sở

Sử Tàu ghi vào thời (Chu) Trang vương có ng dùng ảo thuật chế phục các bộ lạc lên làm vua gọi là Hùng vương, thời điểm này tương ứng tk 7-8 tcn và cũng phù hợp với kết quả khảo cổ

Về từ 'Hùng vương' có ít nhất 3 cách giải thích ý nghĩa
Chữ ký của Thanhsamkhach





Fri Oct 29, 2010 11:15 am

avatar
Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)

Thành viên cấp 2

jushin1993

Thành viên cấp 2

Xem lý lịch thành viên http://hoamoino.wordpress.com
Họ & tên Họ & tên : Jushin
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 23/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 69
Đến từ Đến từ : Sóc Trăng
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)
Điểm thành tích Điểm thành tích : 106
Được cám ơn Được cám ơn : 32

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Cụ Ngô Sĩ Liên là người đời Hồng Đức, không phải đời Trung Hưng. Trung Hưng bắt đầu năm Trang Tôn lên ngôi tức 1533.
Nếu cụ biết tới sự tồn tại của Hùng Vương thì không thể làm liều lùi mốc đến tận 2879 TCN mà không giải thích gì thêm về niên đại ghi trong Đại Việt Sử Lược là Trang Vương đời nhà Chu (696-682 TCN).
Trích dẫn :
Địa bàn của nước Xích quỉ bắc lên tận Động Đình Hồ, nam lấn tới Hồ tôn có thể là địa bàn chung của các dân tộc Bách Việt. Xem như thời Xuân thu Chiến quốc các nước chỉ ở quanh khu vực Trung nguyên, tới cuối thời đó mới có nước Sở ở phía nam Trường giang, Ngô, Việt ở đông nam và bị coi là dân man di. Thời Hán Sở tranh hùng, dân Sở (quê Hang Vũ) còn bị gọi là 'khỉ đội mũ' làm cho Sở Bá vương tức điên bỏ kẻ nói vụng đó (Hàn sinh) vào nồi luộc
Sở có từ trước Chiến Quốc.
Bách Việt chưa phải là một chỉnh thể thống nhất như một quốc gia, hay nằm dưới một quyền lực trung ưong nào cả, không có tư liệu cho điều này, Bách việt gồm nhiều tộc mà Hán chủng gán cho cái nhãn: Việt. Dân vùng đó vốn dĩ man di mọi rợ (trong con mắt Thiên triều và Nho sĩ), vậy làm sao một ông Nho sĩ lão luyện như Ngô Sĩ Liên lại có thể vơ chung ông ấy với những tộc bị xem-là-man-di đó?
Đó là về tư tưởng, cái thứ hai, tại sao Lê Tắc không đưa Hùng Vương – hay Lạc vuơng, lạc tướng (Lạc tướng hậu ngoa vi Hùng Tướng- Ngô Sĩ Liên) với mốc niên đại vào sử của mình?Tại sao trong Lịch Đại Đế Vương của Việt Điện U Linh Tập không dẫn mốc nào của Hùng Vương – hay Kinh Dương Vuơng?
Chuyện thật nhức đầu. Mốc tk 7TCN thì không bàn cãi rồi, tại kết quả khảo cổ thì thường là đúng.
Chữ ký của jushin1993





Fri Oct 29, 2010 11:42 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
ĐVSKTT được khắc in toàn bộ và công bố lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông, tức là năm 1697 và là cuốn sử Việt Nam cổ nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay do nhiều sử gia từ thời nhà Trần và nhà Hậu Lê soạn thảo ra.

NSL đúng là viết nó thời Hồng Đức còn sau đó có ai bổ sung rồi mới in ra thì k0 biết (nhất là qua loạn lạc thời Mạc)

Sở có từ trước Chiến quốc có lẽ cũng như Ngô theo truyền thuyết (khó tin) do Thái Bá lập nên từ thời Tam đại còn thời XTCQ Sở với tư cách 1 nước xuất hiện khá muộn (xem Đông chu liệt quốc).

Kể cả ng Lạc Việt cũng bị coi là man di mọi rợ. NSL viết về nước xích quỷ có thể do truyền thuyết Lĩnh nam (nam ngũ lĩnh) cũng là do có thực tế

Chữ ký của Thanhsamkhach





Sun Oct 31, 2010 11:48 am

avatar
Gần bóng đèn, xa lọ mực

Thành viên cấp 3

Phụng_Thiên

Thành viên cấp 3

Xem lý lịch thành viên
Họ & tên Họ & tên : Hoàng Thiên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 21/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 126
Đến từ Đến từ : TP. Hồ Chí Minh
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Gần bóng đèn, xa lọ mực
Điểm thành tích Điểm thành tích : 151
Được cám ơn Được cám ơn : 12

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Ng man rợ theo tôi xem nhiều phim và nhất là vô cực thì đó là giống người năm vùng gần giữa Trung nguyên rồi tam quốc cũng có 1 bộ tộc man rợ luôn quấy phá Lưu Bị lúc Lưu Bị cùng liên minh với Lữ Bố vậy nên người Lạc Việt không thể là giống người man di đựoc

Theo tôi thì Người Việt sông du mục theo kiểu từng bộ lạc với hàng trăm tù trưởng chia ra từng vùng nuôi trồng và thu hoạch khác nhau.
Truyền Thuyết Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu khíên tôi nghĩ rằng
Âu Cơ tức là bộ lạc lớn nhất mang tên Âu Việt nằm ở vùng núi non và đất liền
Lạc Long Quân tức là bộ lạc lớn nhất vùng miền biển thời đó với tên Lạc Việt
Thời này có thể do khan hiếm nguồn thức ăn hoặc vì thiên tai người Lạc Việt lấn chiếm vùng phía đông bắc và tiến sâu vào lãnh thổ TQ bây giờ nay là quảng đông do hàng nghìn năm bị đồng hoá họ đã mất đi tiếng Kinh của mình và thay vào đó là tiếng trung nhưng giọng lại rất khác giống như người phương tây học tiếng Việt vậy.
Tây Âu có thể là người Âu sống ở vùng phía Tây.

Theo tôi nghĩ là Người Việt thời đó sống theo kiểu du mục di chuyển khắc nơi và mở rộng lãnh thổ nên thưởng xuyên xảy ra chiến tranh cho đến thời Hùng Vương hợp lại thống nhất được các bộ tộc.
Chữ ký của Phụng_Thiên





Sun Oct 31, 2010 12:20 pm

avatar
phía sau gương mặt giai nhân là một cái đầu lâu......Và bên trong một cái đầu lâu là bộ óc thiên tài

Thành viên cấp 3

anvi_than

Thành viên cấp 3

Xem lý lịch thành viên http://vn.360plus.yahoo.com/dracu_bin_1993/
Họ & tên Họ & tên : Anvi_Than
Ngày tham gia Ngày tham gia : 06/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 217
Đến từ Đến từ : Vô gia cư
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : phía sau gương mặt giai nhân là một cái đầu lâu......Và bên trong một cái đầu lâu là bộ óc thiên tài
Điểm thành tích Điểm thành tích : 368
Được cám ơn Được cám ơn : 92

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Nói lại chút về cái vụ tỏ mồm của Chung Cụa

Man Di Mọi Rợ...Là từ phía sau dùng để chỉ Nam Đông Bắc Tây theo cách của người Chung Cụa...

Tạm gọi như sau:

Nam Man
Đông Di
Bắc Mọi
Tây Rợ

Vậy ra nước Việt là Nam Man...Các bạn trẻ thường dùng 4 từ nay chửi nhau nhưng đôi khi không hiểu nghĩa của nó...

Tuy nhiên hiện nay giới trẻ đã sáng tạo thêm. Ngoài Nam Man Đông Di Bắc Mọi Tây Rợ còn có thêm Trung Tàu...Vừa đầy đủ, lại vừa chuẩn địa lí, lịch sử...
Chữ ký của anvi_than





Sun Oct 31, 2010 4:05 pm

avatar
Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)

Thành viên cấp 2

jushin1993

Thành viên cấp 2

Xem lý lịch thành viên http://hoamoino.wordpress.com
Họ & tên Họ & tên : Jushin
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 23/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 69
Đến từ Đến từ : Sóc Trăng
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)
Điểm thành tích Điểm thành tích : 106
Được cám ơn Được cám ơn : 32

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
@Phụng Thiên: suy luận của anh có mấy chỗ không ổn:
Nguời Vịêt không du mục. Người Việt du mục thì sẽ k có chuyện văn minh lúa nước được. Du mục thì không có trống đồng, dễ hiểu.
Lạc Long Quân và Âu Cơ là truyền thuyết, nhưng trong 2 quyển VDULT và LNCQ, ko thấy đề cập tới, nên không biết là thời đó có mặt chưa nữa. Hoặc có nhưng chưa thăng cấp lên hàng truyền thuyết cội nguồn, hoặc sau này mới có, cho nên khó mà tin vào truyền thuyết này để tìm tung tích.
Chữ ký của jushin1993





Mon Nov 01, 2010 7:04 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Bổ sung chút: Bắc rợ và Tây mọi chớ k0 phải Bắc mọi, Tây rợ. Bắc rợ hay rợ Hồ là các tộc như Nữ Chân... nhiều lần tiến chiếm TQ và đã từng lập những nước lớn như Kim

Theo khảo cổ văn minh trống đồng có trung tâm là bắc châu thổ sông Hồng và lan toả rộng trong một địa bàn rộng hơn cả nước Xích quỷ tới tận Nam dương (theo mật độ trống tìm thấy)

Vì khác văn hoá nên các tộc người vẫn coi thường nhau ng Tống gọi Liêu là Liêu cẩu, ng Liêu gọi Tống là Tống trư, chúng ta chẳng nên bắt chước cái xấu đó

Thời Triệu Đà làm biểu tạ tội (tội tiếm xưng đế hiệu) dâng lên vua Hán có miệt thị dân Việt '...là nước trần truồng mà cũng xưng vương'. Nhưng đó là do thời tiết nóng bức thôi, như ở Tây nguyên bây giờ 1 số dân tộc phụ nữ vẫn để ngực trần
Chữ ký của Thanhsamkhach





Mon Nov 01, 2010 7:11 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Lạc Long Quân và Âu Cơ là truyền thuyết có thể tương đối mới nên VDULT và LNCQ ko đề cập. Theo gs Trần Quốc Vượng rất nhiều truyền thuyết như Chử Đồng tử chỉ ra đời vào thời Hậu Lê, nhiều gia phả dòng họ cũng ra đời vào thời đó và kéo nguồn gốc tổ tiên mình vào xứ Thanh (cho cùng quê với vua Lê, chúa Trịnh)

Ngay gần đây VD xe tăng nào vào dinh ĐL đầu tiên ngày 30-4, ai có công bắt De Castri ở ĐBP... chúng ta còn nhầm lẫn và tranh cãi nói chi chuyện đời xưa. vậy mới là LS
Chữ ký của Thanhsamkhach





Mon Nov 01, 2010 2:29 pm

avatar
Gần bóng đèn, xa lọ mực

Thành viên cấp 3

Phụng_Thiên

Thành viên cấp 3

Xem lý lịch thành viên
Họ & tên Họ & tên : Hoàng Thiên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 21/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 126
Đến từ Đến từ : TP. Hồ Chí Minh
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Gần bóng đèn, xa lọ mực
Điểm thành tích Điểm thành tích : 151
Được cám ơn Được cám ơn : 12

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
jushin1993 đã viết:
@Phụng Thiên: suy luận của anh có mấy chỗ không ổn:
Nguời Vịêt không du mục. Người Việt du mục thì sẽ k có chuyện văn minh lúa nước được. Du mục thì không có trống đồng, dễ hiểu.
Lạc Long Quân và Âu Cơ là truyền thuyết, nhưng trong 2 quyển VDULT và LNCQ, ko thấy đề cập tới, nên không biết là thời đó có mặt chưa nữa. Hoặc có nhưng chưa thăng cấp lên hàng truyền thuyết cội nguồn, hoặc sau này mới có, cho nên khó mà tin vào truyền thuyết này để tìm tung tích.

Theo tôi biết thì người Việt mình giỏi nhất là săn bắn làm cung,nỏ nên mới có truyền thuyết về nỏ thần của An Dương Vương.
Mà đã săn bắn thì cùng với chăn nuôi. theo kiểu du mục.Nền văn minh lúa nước chỉ xuất hiện ở những vùng đồng bằng còn những vùng miền núi thì theo tôi đều sống du mục và chăn nuôi. Chính vùng rừng núi là địa bàn hiểm trở nên quân TQ k thể mang cả biển người sang được nên bị lính du kích của Thục Phán An Dương Vương cho đi họp cùng ông bà ở đó.
He he he Như vậy Thục Phán An Dương Vương có thể là một tù trưởng lớn người miền ngược thống nhất được các bộ lạc khác liên minh với Hùng Vương dẹp bọn Bắc mọi. Rồi sau đó Hùng Vương nhường ngôi cho An Dương Vương
Chữ ký của Phụng_Thiên





Tue Nov 02, 2010 7:49 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Du mục là chăn nuôi nhưng thường di chuyển theo đàn gia súc. Địa hình VN và phương Nam nói chung ko thích hợp để du mục. Chỉ miền bắc TQ thích hợp (và nhiều nơi khác như Tiểu Á)

Săn bắn, hái lượm thì dân tộc nào khi mới hình thành cũng trải qua thôi và còn tiếp diễn đến bây giờ (để bảo vệ mùa màng, cuộc sống... kiếm thêm thức ăn). Ng Việt mình đúng là giỏi săn bắn nên bây giờ vẫn thấy bán đầy thịt thú rừng?

Nói về 1 nền văn minh ng ta nói tới bộ phận chủ đạo. VD VN hiện nay vẫn được coi là nền kinh tế tiểu nông mặc dù đã qua bao năm CN hoá, hiện đại hoá

VN đúng là chủ yếu là văn minh lúa nước. Ngành trồng trọt của VN xuất hiện còn sớm hơn TQ và nhiều nước khác. Theo khảo cổ lúa nước đã được trồng ở VN từ nhiều ngàn năm (văn hoá Phùng Nguyên, thời đồ đá 4-5000 năm) khi đó TQ chỉ tìm thấy 1 điểm trồng kê ở Ngưỡng Thiều
Chữ ký của Thanhsamkhach





Tue Nov 02, 2010 2:13 pm

avatar
Gần bóng đèn, xa lọ mực

Thành viên cấp 3

Phụng_Thiên

Thành viên cấp 3

Xem lý lịch thành viên
Họ & tên Họ & tên : Hoàng Thiên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 21/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 126
Đến từ Đến từ : TP. Hồ Chí Minh
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Gần bóng đèn, xa lọ mực
Điểm thành tích Điểm thành tích : 151
Được cám ơn Được cám ơn : 12

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Thanhsamkhach đã viết:
Du mục là chăn nuôi nhưng thường di chuyển theo đàn gia súc. Địa hình VN và phương Nam nói chung ko thích hợp để du mục. Chỉ miền bắc TQ thích hợp (và nhiều nơi khác như Tiểu Á)

Săn bắn, hái lượm thì dân tộc nào khi mới hình thành cũng trải qua thôi và còn tiếp diễn đến bây giờ (để bảo vệ mùa màng, cuộc sống... kiếm thêm thức ăn). Ng Việt mình đúng là giỏi săn bắn nên bây giờ vẫn thấy bán đầy thịt thú rừng?

Nói về 1 nền văn minh ng ta nói tới bộ phận chủ đạo. VD VN hiện nay vẫn được coi là nền kinh tế tiểu nông mặc dù đã qua bao năm CN hoá, hiện đại hoá

VN đúng là chủ yếu là văn minh lúa nước. Ngành trồng trọt của VN xuất hiện còn sớm hơn TQ và nhiều nước khác. Theo khảo cổ lúa nước đã được trồng ở VN từ nhiều ngàn năm (văn hoá Phùng Nguyên, thời đồ đá 4-5000 năm) khi đó TQ chỉ tìm thấy 1 điểm trồng kê ở Ngưỡng Thiều

Ừm tớ cũng thấy vướng mặc nhiều điều về du mục. Tôi xem mấy phim tài liệu nói về mấy bộ lạc tự trị của Brazin họ không trồng lúa họ cũng chỉ nuôi vài con vật và cách kiếm ăn hàng ngày là vẫn như tiền sử săn bắn hái lượm.Ở đó rừng nhiệt đới bao phủ quanh năm có cả đồng bằng và núi. họ săn bắn trên rừng và bẫy thú ở đồng bằng.

Tôi sử dụng từ du mục là sai nhưng hồi đó người vùng cực bắc nước ta chắc chắn là chưa có lúa nước mà hầu hết là các bộ lạc chia lãnh thổ săn bắn. Và có tranh giành nhau về lãnh thổ của từng bộ lạc. Họ phát triển về vũ khí tầm xa và bẫy. và tôi nghĩ chắc chắn như vậy nên An Dương Vương mới tập hơp các bộ lạc Tây Âu cùng Lạc Việt tức Hùng Vương để đánh quân Tần từ đó đất nước có tên là Âu Việt
Chữ ký của Phụng_Thiên





Wed Nov 03, 2010 1:19 am

avatar
Ăn và ngủ.

Thành viên cấp 1

Atula

Thành viên cấp 1

Xem lý lịch thành viên
Họ & tên Họ & tên : Nguyễn Ngọc Linh
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/08/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 31
Đến từ Đến từ : tpHCM
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Ăn và ngủ.
Điểm thành tích Điểm thành tích : 35
Được cám ơn Được cám ơn : 0

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Phụng_Thiên đã viết:

Theo tôi biết thì người Việt mình giỏi nhất là săn bắn làm cung,nỏ nên mới có truyền thuyết về nỏ thần của An Dương Vương.
Mà đã săn bắn thì cùng với chăn nuôi. theo kiểu du mục.Nền văn minh lúa nước chỉ xuất hiện ở những vùng đồng bằng còn những vùng miền núi thì theo tôi đều sống du mục và chăn nuôi. Chính vùng rừng núi là địa bàn hiểm trở nên quân TQ k thể mang cả biển người sang được nên bị lính du kích của Thục Phán An Dương Vương cho đi họp cùng ông bà ở đó.
He he he Như vậy Thục Phán An Dương Vương có thể là một tù trưởng lớn người miền ngược thống nhất được các bộ lạc khác liên minh với Hùng Vương dẹp bọn Bắc mọi. Rồi sau đó Hùng Vương nhường ngôi cho An Dương Vương

Con người trong quá trình phát triển từ săn bắn, hái lượm rồi mới biết trồng trọt. Rồi từ trồng trọt mới có chăn nuôi, du mục.

Còn du mục thì theo như mình được biết, con người sau khi chiếm lĩnh vùng nhiệt đới và ôn đới mới lên vùng hàn đới! (theo Cơ sở văn hóa Việt Nam). VN mình nằm trong khu vực nhiệt đới, du mục là có khả năng. Theo tam đoạn luận. =)) Mai học CSVHVN để hỏi Thầy cho chắc! *Èo, không biết có hỏi được ông thầy này không nữa :-s*
Chữ ký của Atula





Wed Nov 03, 2010 1:53 am

avatar
Ăn và ngủ.

Thành viên cấp 1

Atula

Thành viên cấp 1

Xem lý lịch thành viên
Họ & tên Họ & tên : Nguyễn Ngọc Linh
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/08/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 31
Đến từ Đến từ : tpHCM
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Ăn và ngủ.
Điểm thành tích Điểm thành tích : 35
Được cám ơn Được cám ơn : 0

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
anvi_than đã viết:

Mình nghi đơn giản thế này thôi…
Nếu thời đại Hùng Vương. Thời đại được xem là bắt đầu của nền văn hiến nước nhà chỉ mới xuất hiện khoảng thế kỉ 7-8 TCN là vô lí…Bởi vì…
Một dân tộc chỉ mới tồn tại khoảng 600-700 năm lại có thể kinh qua hơn 1000 năm đô hộ của ngoại bang được ư…Điều đó chắc chắn là không thể…Một dân tộc bị đô hộ ngàn năm dù bị đồng hoá ít nhiều nhưng vẫn giữ được cái gốc rễ người Việt như dân tộc ta…Điều này đã minh chứng dân tộc Việt Nam chắc chắn phải có một nền văn hiến, văn minh rất cao thâm…
Các bạn có thể dễ dàng dùng gúc-gồ để tìm hiểu về điều này…
Qua những lời “nói hớ” của Chính sử Trung Hoa
Qua Trống Đồng…
Qua Hoả tự…
Qua giả thiết con số 18 thật ra chỉ mang nghĩa tượng trưng…
…v…v…

Công nhận bạn nghi (nghĩ?) đơn giản thật!

1/ Xin thưa với bạn, nói lịch sử VN dài 4000 năm tức là đồng nhất thời kì văn hóa Phùng Nguyên với thời kì Hùng Vương đấy ạ! Mà thời kì này thì chưa có xuất hiện nhà nước nhé bạn!

Tất cả các quốc gia ĐNA sơ kì đầu tiên thì xuất hiện sớm nhất cũng phải đầu công nguyên. Nếu có thì chỉ có nước Bách Việt (VII TCN)

(Thời Tần, tất cả các lãnh thổ nam s.Trường Giang đều gọi là Bách Việt, gồm 3 quốc gia cổ đại hình thành nên cục diện cuối cùng tiến tới thống nhất Trung Hoa: Ngô, Sở, Việt (Âu Việt và Lạc Việt))

2/ Vì sao ta thoát khỏi 1000 năm Bắc thuộc? Bởi, ta bước vào thời kì Bắc thuộc không phải bằng con số 0. Mà đã định hình về văn hóa, tức là đã có những nền văn hóa được phát triển và định hình rồi. Nhưng, không phải vì vậy mà khằng định (gian lận) rằng nước ta có 4000 năm lịch sử! Con số đó nó chả có căn cứ gì cả!
Chữ ký của Atula





Wed Nov 03, 2010 3:00 am

avatar
phía sau gương mặt giai nhân là một cái đầu lâu......Và bên trong một cái đầu lâu là bộ óc thiên tài

Thành viên cấp 3

anvi_than

Thành viên cấp 3

Xem lý lịch thành viên http://vn.360plus.yahoo.com/dracu_bin_1993/
Họ & tên Họ & tên : Anvi_Than
Ngày tham gia Ngày tham gia : 06/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 217
Đến từ Đến từ : Vô gia cư
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : phía sau gương mặt giai nhân là một cái đầu lâu......Và bên trong một cái đầu lâu là bộ óc thiên tài
Điểm thành tích Điểm thành tích : 368
Được cám ơn Được cám ơn : 92

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
1/ Xin thưa với bạn, nói lịch sử VN dài 4000 năm tức là đồng nhất thời kì văn hóa Phùng Nguyên với thời kì Hùng Vương đấy ạ! Mà thời kì này thì chưa có xuất hiện nhà nước nhé bạn!

Đừng "thưa thốt - đấy ạ" với mình làm gì...
Văn hoà Phùng Nguyên được đồng nhất với thời Hùng Vương thì bạn đi thưa với các bật tiền bối ấy...Để người ta tổ chức hội thảo và công nhận giả thuyết...Chứ mình thì chưa nghe qua cái vụ "đồng nhất" này bao giờ. Nếu không phải của bạn thì bạn lấy từ đâu vậy, chỉ mình xem với...

Còn về "Nhà Nước" đồng ý thôi...Nhưng mình chẳng hiểu tại sao bạn nhảy qua nó làm gì...Có ai nói ra thời kỳ này xuất hiện nhà nước đâu nhỉ....?????

Trích dẫn :
2/ Vì sao ta thoát khỏi 1000 năm Bắc thuộc? Bởi, ta bước vào thời kì Bắc thuộc không phải bằng con số 0. Mà đã định hình về văn hóa, tức là đã có những nền văn hóa được phát triển và định hình rồi. Nhưng, không phải vì vậy mà khằng định (gian lận) rằng nước ta có 4000 năm lịch sử! Con số đó nó chả có căn cứ gì cả!

Tuy bạn chẳng nói ra nhưng mình nhận thấy bạn suy nghĩ thật là "sâu sắc"
Thêm một luận điểm nửa cần được đưa ra thẩm định trong các hội thảo.

4000 năm lịch sử - 4000 năm văn hiến
Lịch sử là gì và văn hiến là gì...? Trả lời hai câu hỏi đó thì mọi tranh cãi được giải quyết ngay thôi mà.
Chữ ký của anvi_than





Wed Nov 03, 2010 6:04 am

avatar
Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)

Thành viên cấp 2

jushin1993

Thành viên cấp 2

Xem lý lịch thành viên http://hoamoino.wordpress.com
Họ & tên Họ & tên : Jushin
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên
Ngày tham gia Ngày tham gia : 23/10/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 69
Đến từ Đến từ : Sóc Trăng
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Thích đủ thứ trên đời này (Thích Mọi Thứ)
Điểm thành tích Điểm thành tích : 106
Được cám ơn Được cám ơn : 32

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Không có Nhà nước Bách Việt trong lịch sử.
Không có chuyện Hùng Vương sống dai đến cả ngàn năm như ĐVSKTT đã nêu.
Chuyện dứt khỏi Bắc thuộc, đó là một may mắn của người Việt chúng ta. May mắn vì sao? Vì TQ đang lục đục vô cùng, họ không có và không thể vươn cái vòi tới chúng ta xuyên qua Đại Lí, hay Nam Hán được. Chỉ có Nam Hán mới đánh nhau với ta.
Nếu điểm qua 2 bộ sử là ĐVSKTT và ĐVSL thì thấy rõ một điều rằng càng về thời Nho giáo toàn thịnh trên Đại Việt, chúng ta càng...hạ mình xuống trước "thiên triều" một chút theo tinh thần NHo giáo (cái này có thể lấy chuyện Lê Hoàn tiếp sứ Tống, phô trương thực lực của mình, một điều mà trong mấy thế kỉ sau không có ai làm)
Chữ ký của jushin1993





Wed Nov 03, 2010 7:52 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Phụng_Thiên đã viết:

Tôi sử dụng từ du mục là sai nhưng hồi đó người vùng cực bắc nước ta chắc chắn là chưa có lúa nước mà hầu hết là các bộ lạc chia lãnh thổ săn bắn. Và có tranh giành nhau về lãnh thổ của từng bộ lạc. Họ phát triển về vũ khí tầm xa và bẫy. và tôi nghĩ chắc chắn như vậy nên An Dương Vương mới tập hơp các bộ lạc Tây Âu cùng Lạc Việt tức Hùng Vương để đánh quân Tần từ đó đất nước có tên là Âu Việt

Khảo cổ học cho biết hồi đó (văn hoá Phùng Nguyên 4-5000 năm) ng Việt đã sinh sống ở châu thổ sông Hồng và trồng lúa nước. Còn vùng cực bắc nước ta bây giờ (Hà Giang...) cũng k0 thể trồng lúa nước mà chỉ trồng lúa nương hoặc ngô
Về vũ khí tầm xa (cung, nỏ...) các dân tộc du mục cũng rất mạnh (vì phải chống lại kẻ thù tự nhiên và con ng). Như dân Nguyên Mông, cung tên của họ xạ lực rất mạnh và chính xác
Chữ ký của Thanhsamkhach





Wed Nov 03, 2010 7:56 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Atula đã viết:

(Thời Tần, tất cả các lãnh thổ nam s.Trường Giang đều gọi là Bách Việt, gồm 3 quốc gia cổ đại hình thành nên cục diện cuối cùng tiến tới thống nhất Trung Hoa: Ngô, Sở, Việt (Âu Việt và Lạc Việt))

Hình như có nhầm lẫn. Nước Việt của Việt vương Câu tiễn chẳng dính dáng gì đến Âu Việt, Lạc Việt cả (cách xa lắm)

Các chữ Việt, Lạc, Âu... có nghĩa lý gì, các bạn có thích thảo luận k0?

Chữ ký của Thanhsamkhach





Wed Nov 03, 2010 8:04 am

avatar
Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi

Thành viên năng động

Thanhsamkhach

Thành viên năng động

Xem lý lịch thành viên
Vai trò trong CLB Sử học Trẻ Vai trò trong CLB Sử học Trẻ : Thành viên năng động
Ngày tham gia Ngày tham gia : 22/07/2010
Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 511
Sở trường/ Sở thích Sở trường/ Sở thích : Tôi yêu sử và tôi yêu văn. Cho tôi tâm hồn, cho tôi ý chí. Có nhiều lúc ngã lòng rơi lệ. Vịn câu thơ tôi đứng dậy mà đi
Điểm thành tích Điểm thành tích : 679
Được cám ơn Được cám ơn : 106

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
jushin1993 đã viết:

Chuyện dứt khỏi Bắc thuộc, đó là một may mắn của người Việt chúng ta. May mắn vì sao? Vì TQ đang lục đục vô cùng, họ không có và không thể vươn cái vòi tới chúng ta xuyên qua Đại Lí, hay Nam Hán được. Chỉ có Nam Hán mới đánh nhau với ta.
Nếu điểm qua 2 bộ sử là ĐVSKTT và ĐVSL thì thấy rõ một điều rằng càng về thời Nho giáo toàn thịnh trên Đại Việt, chúng ta càng...hạ mình xuống trước "thiên triều" một chút theo tinh thần NHo giáo (cái này có thể lấy chuyện Lê Hoàn tiếp sứ Tống, phô trương thực lực của mình, một điều mà trong mấy thế kỉ sau không có ai làm)

Chuyện dứt khỏi Bắc thuộc, đúng là một may mắn của người Việt chúng ta.
1 lý do khác là nhà Tống là 1 triều đại hèn yếu nhất trong LS TQ (lí do và dẫn chứng có cần phải viết ko nhỉ, lại ra ngoài topic, lại bị phê lạc đề thì chết dở)
Thời Tống, quân Đại Việt đánh sang tận TQ cũng chỉ vùng ven thôi nhưng thật 'vô tiền khoáng hậu' trong LS VN
Chữ ký của Thanhsamkhach








Sponsored content

Bài gửiTiêu đề: Re: Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

 
Chữ ký của Sponsored content




 

Thời dựng nước (2879 (?) - 207 tr.CN)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : 1, 2  Next

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: VIỆT SỬ :: Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại :: Thời Tiền Sử đến thời dựng nước-
________________________________________________________________________
Copyright ©2007 - 2009, Forumotion
Suhoctre ©2007- 2009 Phát triển bởi thành viên Diễn đàn
BQT Diễn đàn: Châu Tiến Lộc - Nguyễn Thị Trang - Phạm Ngọc Thạch

Sáng lập viên : Châu Tiến Lộc, Nguyễn Hùng Sơn, Nguyễn Thái Bình
Email : suhoctre@gmail.com - Forum : http://suhoctre.no1.vn
Xem trang web này tốt nhất với độ phân giải 1024x768 (hoặc cao hơn) với Firefox 3.0


Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create a free blog